VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Xử lý nợ xấu: Cần một hành lang pháp lý

Mua bán nợ xấu ngân hàng hầu như chưa có

Xử lý nợ xấu: Cần một hành lang pháp lý

(Tài chính) Nợ xấu và xử lý nợ xấu tại các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của dư luận. Để xử lý hiệu quả các khoản nợ xấu hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng, bên cạnh việc hình thành thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp, nâng cao năng lực cho Công ty mua bán nợ Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế mua bán nợ - hành lang pháp lý cho lĩnh vực này…

Với khối lượng nợ xấu liên tục tăng trong thời gian vừa qua, hệ thống ngân hàng đã có những biện pháp xử lý như trích lập dự phòng, cho phép các ngân hàng mua nợ xấu của nhau. Hay như mới đây nhất là giải pháp thành lập công ty mua bán nợ xấu ngân hàng. Tuy nhiên, mặc dù Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã có Văn bản 2871/NHNN-TD cho phép các ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện mua bán nợ theo quy định của Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN. Thế nhưng từ đó đến nay hầu như chưa có giao dịch mua bán nợ giữa các NHTM. Điều này có thể hiểu là mua bán nợ giữa các NHTM không hiệu quả. Hơn nữa, nếu thực hiện cơ chế này, về bản chất, không xử lý được tận gốc vấn đề nợ xấu, nợ xấu chỉ chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Cụ thể, khi triển khai chủ trương này, ngân hàng bán nợ thu được tiền và thoát khỏi vùng ách tắc vốn; nợ xấu lại được chuyển sang ngâm giữ ở ngân hàng mua nợ.

Như vậy, đây chỉ là hình thức làm đẹp bảng cân đối của các ngân hàng. Cùng đó, những doanh nghiệp đang là con nợ bị đem bán, họ không bị thúc bách trả nợ ngay như từng với chủ cũ mà được hưởng cơ chế mới của chủ nợ mới. Ngoài ra, việc mua bán nợ nói trên cũng là hình thức để các ngân hàng “gán nợ” cho nhau. Ví dụ, ngân hàng A vay ngân hàng B 200 tỷ đồng nhưng C lại vay A 200 tỷ đồng. Bình thường, A sẽ đòi nợ C để trả cho B nhưng vì C đang gặp khó khăn nên A có thể bán lại khoản nợ đó cho B. Như thế, chuyện nợ nần giữa A và B được giải quyết, sổ sách tài chính của họ sẽ lành mạnh hơn và B sẽ thành chủ nợ mới của C. Kết quả của chu trình này là nợ xấu vẫn chưa được xử lý triệt để. Bên cạnh đó, việc thành lập công ty xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã vấp phải nhiều ý kiến phản đối. Đa số các ý kiến cho rằng, việc thành lập công ty xử lý nợ xấu là không cần thiết trong điều kiện nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay, nhất là vấn đề lấy vốn ở đâu và thành lập như thế nào.

Mặt khác, mặc dù các tổ chức tín dụng đã trích lập dự phòng tín dụng 70.000 tỷ đồng, trong đó 84% nợ xấu có tài sản đảm bảo, tương đương 130% giá trị các khoản nợ. Thế nhưng, một thực tế hiện nay là nhiều giá trị tài sản đảm bảo nợ đã giảm so với thời điểm vay vốn. Cụ thể, giá trị tài sản khi được tổ chức tín dụng định giá xem xét làm tài sản đảm bảo nợ thường được được định giá và cho vay thấp hơn, chỉ bằng 60 - 80% giá trị thực tế của tài sản đảm bảo nợ. Nhưng sau một thời gian sử dụng, trung bình giá trị tài sản đảm bảo giảm khoảng 20%, thậm chí các tài sản là tàu biển giá trị giảm trên dưới 50%, các cổ phiếu có nhiều mã giảm tới 60 - 70% so với thời điểm cầm cố. Đặc biệt, giá trị tài sản đảm bảo là bất động sản giảm mạnh, do khi làm thủ tục vay, tài sản đảm bảo bất động sản thường vẫn nằm trên giấy và được các doanh nghiệp khách nợ đẩy giá lên cao gấp nhiều lần giá trị thực tế. Vì vậy, trong giai đoạn thị trường bất động sản đóng băng như hiện nay thì việc thu hồi nợ bằng tài sản đảm bảo từ đất đai là một khó khăn lớn đối với các tổ chức tín dụng.

Theo PGS.,TS. Nguyễn Thị Mùi, Trường Đào tao và Phát triển nhân lực Vietinbank, nợ xấu của các ngân hàng, cho dù có nhiều con số thì vẫn là ẩn số. Và ẩn số này là không nhỏ. Khi thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổng hợp báo cáo của các tổ chức tín dụng cuối tháng 5 vừa qua đưa ra con số 4,47%, nhưng thanh tra NHNN sau đó lại đưa ra con số 8,6%. Thống đốc NHNN thì ước tính tỷ lệ nợ này là 10%. Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia tính toán và đưa ra con số 11,8%. Sự khác nhau đến từ cách phân loại nợ khác nhau. Thứ hai, có thể chủ nợ đã chuyển nợ (vốn vay) thành vốn góp. “Nhưng dù thế nào thì chiều hướng nợ xấu ngày càng tăng”, TS. Mùi khẳng định và cho rằng chưa xử lý được một cách minh bạch thì việc tái cơ cấu ngân hàng sẽ không đạt kết quả.

Đồng thuận với quan điểm trên, TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng: “Việc xử lý nợ xấu nay đã phức tạp hơn trước rất nhiều, do quy mô tài chính trong nền kinh tế đã khác trước. Hàng loạt tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã trên bờ vực thua lỗ, phá sản vì nợ nần không thể giải quyết do làm ăn kém hiệu quả. “Muốn xử lý nợ xấu phải có định chế tài chính đủ lực để thực hiện những công việc khó khăn. Định chế này phải có cơ sở pháp lý, phải được quyền tổng điều tra, rà soát mọi văn bản liên quan đến xử lý, dịch chuyển tài sản. Để định chế xử lý nợ này có vai trò và được hoạt động thật sự hiệu quả trên thị trường mua bán nợ, vấn đề Nhà nước có trao quyền và dám chấp nhận đánh đổi hay không phải thật rõ. Còn nếu không, bàn 4 năm nữa mới tạm hình dung ra việc…”.

Có thể nói, nguyên nhân chính làm gia tăng nợ xấu xuất phát từ chính các ngân hàng. Vì vậy, phải tách nợ xấu ra khỏi hệ thống ngân hàng để xử lý. Nghĩa là, tách bạch tài sản tốt với tài sản xấu hay còn gọi là ngân hàng tốt và ngân hàng xấu. Theo đó, cần chuyển giao các khoản nợ xấu sang các ngân hàng xấu càng nhanh càng tốt. Bởi, ngân hàng tốt luôn khuyến khích việc đánh giá thấp mức độ của vấn đề vì việc lập dự phòng cho nợ xấu ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí nghề nghiệp và kết quả tài chính. Cùng với đó, phải tăng cường vai trò hỗ trợ của Công ty mua bán nợ Việt Nam (DATC). Tuy nhiên, do DATC là tổ chức hoạt động theo chỉ định của Chính phủ nên quy mô xử lý nợ xấu của đơn vị này còn phụ thuộc vào quan điểm Nhà nước muốn sử dụng tổ chức này như thế nào trong câu chuyện xử lý nợ xấu. Nếu để tổ chức này hoạt động đơn thuần theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận thì rất khó để công ty mua bán nợ tham gia xử lý nợ ở quy mô lớn như mong muốn. Muốn xử lý nợ xấu đầu tiên cần trả lời được câu hỏi Nhà nước muốn gì và từ đó xác lập được cơ chế chính sách đủ tầm để tổ chức xử lý nợ quốc gia hoạt động.

Ông Dương Thanh Hiền, Phó tổng giám đốc DATC cho biết: “Thực tế hiện nay DATC đang hoạt động theo một cơ chế yếu. Điều lệ, quy chế tài chính của DATC gần 9 năm nay vẫn là quy chế tạm thời. Và khi cơ chế yếu thì hiệu quả xử lý nợ cũng khó đạt mức cao được vì vướng rất nhiều yếu tố. Như vậy cần phải có cơ chế rõ ràng hơn”. Ông cũng Hiền viện dẫn “Ví như Thông tư 79/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính yêu cầu DATC phải sử dụng tối thiểu 70% tổng nguồn vốn đầu tư để mua các khoản nợ và tài sản của khách nợ là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Nhưng quy đinh này không nói rõ tổng nguồn vốn đầu tư tính thế nào. Họ cũng bị hạn chế quyền áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu. Do đó khả năng xử lý được khối nợ xấu ở doanh nghiệp thì có thể làm được nhưng tham gia vào quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp đó một cách thực sự là rất khó.

Bên cạnh đó, để xử lý thành công các khoản nợ xấu các chuyên gia cho rằng cần phải khuyến khích các hoạt động mua bán nợ giữa các DNNN, NHTM và DATC; tăng quy mô, nâng cao năng lực về tài chính, quản trị, trách nhiệm và vai trò của DATC. Theo đó, Bộ Tài chính sẽ ban hành các cơ chế liên quan đến hoạt động của DATC theo hướng tạo quyền chủ động cho DATC trong xử lý nợ cho phù hợp với thông lệ quốc tế; Xây dựng cơ chế về việc yêu cầu các ngân hàng thương mại bán các khoản nợ xấu cho DATC hoặc bàn giao nguyên trạng các DNNN bao gồm các Tổng công ty Dâu tằm tơ, các doanh nghiệp thuộc Vinashin... Trong trường hợp nguồn vốn DATC không đủ để thực hiện mua nợ gắn với tái cấu trúc doanh nghiệp, cho phép DATC được phát hành trái phiếu doanh nghiệp (Chính phủ bảo lãnh) hoặc cho DATC được vay vốn có hoàn trả từ nguồn Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp Trung ương để thực hiện các nghiệp vụ tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với xử lý nợ. Ngoài ra, cần tăng thêm vốn điều lệ cho DATC để Công ty này có đủ lực để tham gia xử lý các khoản nợ lớn; Đối với hoạt động tiếp nhận nợ và tài sản tồn đọng loại khỏi giá trị doanh nghiệp, cần tăng cường tính chủ động cho DATC vì đây là những tài sản thực tế không cần hoặc còn rất ít giá trị. Đặc biệt, cần ban hành thông tư hướng dẫn riêng cho DATC trong tái cơ cấu đối với các DN có giá trị thực tế DN thấp hơn các khoản phải trả khi thực hiện CPH. Mặt khác, ông Quang đề nghị có quy định cụ thể về xử lý các khoản nợ xấu của NHTM và tổ chức tín dụng theo hướng tập trung bán nợ, khống chế thời hạn xử lý nợ, nếu quá thời hạn thì phải bán theo giá của tổ chức thẩm định trung gian. Trong trường hợp nguồn vốn của DATC không đủ để thực hiện mua nợ gắn với tái cấu trúc DN thì đề nghị Nhà nước hỗ trợ vốn (có hoàn trả) cho DATC, hoặc phát hành trái phiếu DATC (được định kỳ định giá lại) để thực hiện xử lý nợ.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM