VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Vai trò của phân tích báo cáo tài chính với hoạt động đánh giá tài chính của khách hàng

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Vai trò của phân tích báo cáo tài chính với hoạt động đánh giá tài chính của khách hàng

Mục đích của việc phân tích tài chính của khách hàng là xem xét khả năng tiềm lực tài chính thực tế của doanh nghiệp, thông qua đó ngân hàng đánh giá được vị thế, tình trạng và kết quả tài chính của doanh nghiệp.

Áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam và những yêu cầu đặt ra

Kiểm toán báo cáo tài chính điều hành giá điện năm 2019

Ảnh hưởng của kế toán sáng tạo đến báo cáo tài chính 

Báo cáo tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp và những vấn đề cần lưu ý

Phương tiện trình bày thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh, luồng tiền của một doanh nghiệp chính là báo cáo tài chính. Vì vậy, ứng dụng phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp các ngân hàng phân tích chính xác tình hình tài chính của khách hàng? Bài viết phân tích vai trò chính xác của phân tích tài chính khách hàng đối với hệ thống ngân hàng trong bối cảnh hiện nay.

Ý nghĩa của phân tích tài chính khách hàng

Các ngân hàng trước khi quyết định cho doanh nghiệp (DN) vay vốn cần phải đảm bảo được khả năng thu nợ nếu không muốn bị tồn nợ xấu. Thu nhập tài chính của DN chính là lãi suất từ vốn DN đã vay. Với các khoản vay vốn dài hạn và vay vốn ngắn hạn cần những phân tích tài chính khác nhau, cụ thể:

- Với các khoản vay vốn ngắn hạn, các ngân hàng thường quan tâm tới khả năng thanh toán của DN khi đến hạn trả nợ vay.

- Với các khoản vay vốn dài hạn, các ngân hàng cấp vốn vay sẽ phải thẩm định và đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư của DN. Họ cần phải quản lý tốt quá trình giải ngân để nắm bắt được khả năng thanh toán nợ vay của DN thông qua khả năng sinh lời của dự án DN.

Ứng dụng phân tích báo cáo tài chính  trong phân tích tài chính khách hàng

Phân tích báo cáo tài chính chính (BCTC) được xem như là một nghệ thuật phân tích và giải thích các BCTC. Đó là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu tài chính trong kỳ hiện tại với kỳ đã qua. Với mục tiêu là cung cấp các thông tin tài chính hữu ích cho người ra quyết định, việc phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng, nhất là đối với các quyết định cho vay hay từ chối cho vay, kế hoạch thu nợ… Thông qua các thông tin từ BCTC và một số nguồn khác, ngân hàng có thể đánh giá vị thế, tình trạng và kết quả tài chính của DN. Cụ thể là: Phân tích BCTC DN giúp ngân hàng trả lời các câu hỏi như: DN vay nợ để làm gì? DN đang nợ bao nhiêu? phương án trả nợ của DN thế nào? Nguồn trả nợ DN từ đâu? DN kinh doanh trong thời điểm hiện tại có tốt không?… Từ đó ngân hàng cân nhắc, xem xét đưa ra quyết định cho vay vốn theo các nội dung sau:

Thứ nhất, kiểm tra tình hình sử dụng vốn của DN: Mọi sự thay đổi về tài sản của DN trong kỳ kế toán đều được thể hiện trên BCTC của DN. Vì vậy, phân tích cơ cấu tài sản nguồn vốn sẽ giúp ngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn vay của DN.

DN vay vốn lưu động để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD). Vốn vay sẽ được sử dụng để trang trải cho các khoản chi phí như: Nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí quản lý DN, chi phíbán hàng… Vì vậy, tài sản hình thành từ vốn vay và các nguồn vốn khác để thực hiện phương án SXKD bao gồm hàng tồn kho và các khoản phải thu của khách hàng.

Để tài trợ số tài sản trên, DN phải sử dụng các nguồn từ vốn tự có, vay vốn ngân hàng và chiếm dụng của bên thứ ba cụ thể là nhà cung cấp và khách hàng. Theo đó, có thể kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của DN qua chỉ tiêu sau:

Nhu cầu vốn thực hiện SXKD = Hàng tồn kho (Mã số 141 Bảng cân đối kế toán - CĐKT) + Các khoản phải thu của khách hàng – Các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động

Nếu ngân hàng không cho vay vốn để tài trợ thuế giá trị gia tăng (GTGT), thì cần phải loại bỏ thuế GTGT ra khỏi các khoản phải thu của khách hàng và các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động. Trong công thức trên, các khoản phải thu của khách hàng và các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động được tính như sau:

Các khoản phải thu của khách hàng = Phải thu của khách hàng (Mã số 131 Bảng CĐKT) - Người mua trả tiền trước (Mã số 312 Bảng CĐKT)

Các khoản phải trả nhà cung cấp, người lao động = Phải trả người bán (Mã số 311 Bảng CĐKT) + Phải trả người lao động (Mã số 314 Bảng CĐKT) - Trả trước cho người bán (Mã số 132 Bảng CĐKT)

Lưu ý, là khi DN có các khoản phải trả nhà cung cấp nhà thầu xây dựng, nhà cung cấp máy móc thiết bị và các khoản trả trước… phải loại bỏ các khoản mục phải thu và phải trả cho nhu cầu sử dụng vốn của DN. Vì các khoản phải thu và phải trả này không phục vụ hoạt động SXKD của DN trong ngắn hạn. Nếu DN giải ngân theo hình thức tạm ứng, tại ngày lập bảng cân CĐKT nếu số vốn vay chưa được sử dụng, thì công thức trên có thể sẽ không còn phản ánh được chính xác tình hình sử dụng vốn vay của DN, bởi vì khi đó phần vốn DN vay được từ ngân hàng vẫn tồn tại dưới dạng tiền mặt.

Khi dư nợ vốn vay tại ngân hàng lớn hơn nhu cầu vốn thực hiện SXKD, nghĩa là DN đã sử dụng vốn vay vào mục đích khác ngoài mục đích SXKD. Nếu ngân hàng cho DN vay vốn để chi trả cho các khoản chi phí trả trước ngắn hạn như mua công cụ, dụng cụ, tiền thuê nhà… thì phải cộng thêm khoản mục chi phí trả trước ngắn hạn (Mã số 151 Bảng CĐKT) vào nhu cầu vốn để SXKD, khi kiểm tra mục đích sử dụng vốn của DN. Nếu ngân hàng chấp nhận cho DN vay vốn để tài trợ thuế GTGT thì phải cộng thêm phần thuế GTGT đầu vào tương ứng với mã số 152 Bảng CĐKT vào trong công thức trên.

Trong thực tế, tình huống sử dụng vốn vay của DN rất phong phú và đa dạng nên ngân hàng khó có thể khái quát thành lý thuyết chung. Bài viết chỉ xem xét một số trường hợp phổ biến như:

- Khi DN vay vốn để trả trước cho nhà thầu xây dựng, nhà cung cấp máy móc thiết bị và các chi phí khác để hình thành nên tài sản dài hạn, giá trị của khoản mục tài sản “Chi phí trả trước cho người bán” trên bảng CĐKT sẽ tăng rất nhiều so với khoản mục tài sản này trong các kỳ kế toán trước. Giá trị khoản mục tài sản này phải lớn hơn phần trả trước cho người bán chưa được chuyển thành tài sản dài hạn của DN tại thời điểm lập bảng CĐKT. Ví dụ: DN giải ngân 5 tỷ đồng vốn vay và giải ngân 3 tỷ đồng vốn tự có để trả trước cho nhà cung cấp máy móc thiết bị. Như vậy, cuối kỳ kế toán nếu máy móc thiết bị vẫn chưa được DN nhập về, khoản mục trả trước cho người bán trên bảng cân đối kế toán sẽ phải lớn hơn 8 tỷ đồng. Tuy nhiên, máy móc thiết bị và công trình xây dựng của các nhà cung cấp này chưa được nghiệm thu phần giá trị công trình xây dựng, hoặc máy móc thiết bị được thanh toán sẽ phải được thể hiện trên khoản mục tài sản “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” thuộc khoản mục “tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình” và phù hợp với sự biến động của khoản mục tài sản "Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” trên bảng CĐKT.

- Khi DN giải ngân để thanh toán cho nhà thầu xây dựng hoặc nhà cung cấp máy móc thiết bị và quyết toán nghiệm thu máy móc thiết bị hoặc nghiệm thu công trình xây dựng, phần thanh toán và phần chi phí xây dựng cơ bản dở dang được nghiệm thu phải phù hợp với phần tăng lên của khoản mục “Nguyên giá tài sản cố định TSCĐ”. Ví dụ: Khi DN thanh toán 5 tỷ đồng và nghiệm thu cả một phần nhà xưởng đã được hoàn thành nhưng chưa được quyết toán với giá trị thanh toán là 25 tỷ đồng. Như vậy khoản mục “Nguyên giá TSCĐ” trong kỳ sẽ phải tăng lên tương ứng là 30 tỷ đồng.

Như vậy, tùy vào từng trường hợp sử dụng vốn vay mà ngân hàng có thể có các cách thức kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của DN cụ thể.

Thứ hai, kiểm tra giá trị tài sản thế chấp: Trong việc tín dụng, DN và ngân hàng có thể sử dụng nhiều hình thức bảo đảm tiền như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ 3, tín chấp. Trong đó, thế chấp là hình thức bảo đảm tiền vay phổ biến nhất. DN có thể sử dụng tài sản của bên thứ 3 để thế chấp với sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản hoặc sử dụng tài sản của chính DN để thế chấp. Tuy nhiên, dù trong trường hợp nào khi thực hiện các thủ tục bảo đảm tiền vay, ngân hàng cũng thực hiện định giá tài sản.

Giá trị định giá của tài sản thế chấp thường thấp hơn giá trị thực của tài sản thế chấp. Tuy nhiên, DN có thể sử dụng giấy tờ giả như: Hợp đồng giả, biên bản nghiệm thu giả để nâng giá trị tài sản thế chấp. Vì vậy, ngân hàng có thể sử dụng BCTC hay kiểm tra sổ sách kế toán phần “Nguyên giá TSCĐ” của DN để xác định giá trị thực của tài sản thế chấp. Ví dụ: DN sử dụng TSCĐ trị giá 10 tỷ đồng theo biên bản nghiệm thu để thế chấp vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, nguyên giá TSCĐ của toàn DN thể hiện trong BCTC và trong sổ sách kế toán của DN trong kỳ kế toán lại chỉ tăng 5 tỷ đồng. Như vậy, DN đã sử dụng biên bản nghiệm thu giả để tăng giá trị tài sản thế chấp.

Thứ ba, phân tích khả năng thanh toán: DN cần phải duy trì được một lượng vốn luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịp các khoản nợ ngắn hạn, duy trì hàng tồn kho để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh. DN chỉ có thể tồn tại nếu đáp ứng được các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Để đánh giá khả năng thanh toán của DN, ngân hàng sử dụng các hệ số thanh toán để đánh giá khả năng thanh toán của DN.
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành: Thể hiện khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn thành tiền để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn.

Thông thường, hệ số này thấp (đặc biệt là khi < 1): DN sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ. Đây là dấu hiệu báo hiệu rủi ro về thanh toán mà DN có thể gặp phải. Hệ số này cao cho thấy, DN có khả năng chi trả cho các khoản nợ đến hạn. Muốn đánh giá chính xác hơn, ngân hàng cần xem xét thêm điều kiện kinh doanh, tình hình hoạt động thực tế của DN.

- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay: Nợ của DN sẽ gồm nợ vay và các khoản phải trả (nhà cung cấp, người lao động…). Trong đó, sử dụng nợ vay thì DN phải trả chi phí sử dụng – lãi vay. Do vậy, ngân hàng cần đánh giá xem có rủi ro nào trong thanh toán lãi vay của DN hay không?

Một DN vay nợ nhiều nhưng kinh doanh không hiệu quả, mức sinh lời của đồng vốn thấp (hoặc thua lỗ) thì khó có thể đảm bảo thanh toán tiền lãi vay đúng hạn.

- Hệ số vòng quay các khoản phải thu: Như đã phân tích ở trên, DN chiếm dụng vốn từ nhà cung cấp, từ người lao động… thì ở chiều ngược lại, DN cũng bị khách hàng chiếm dụng vốn, hình thành nên các khoản phải thu. Nếu DN liên tục cho khách hàng mua chịu, sớm muộn sẽ không có đủ tiềm lực để SXKD. Để đánh giá việc tốc độ thu hồi công nợ (các khoản phải thu) của DN, có thể sử dụng Hệ số vòng quay các khoản phải thu:

Và lấy 360 ngày (1 năm) chia cho vòng quay các khoản phải thu, ta được:

Kỳ thu tiền bình quân cho biết: Sau bao lâu, DN sẽ thu được tiền bán hàng? Hệ số này phụ thuộc vào chính sách bán chịu, chính sách thanh toán của DN.

Thứ tư, phân tích đòn bẩy tài chính, nhận diện sớm rủi ro: Có thể sử dụng Hệ số nợ để đánh giá.

Hệ số nợ cho thấy được tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn của DN. Hệ số nợ của DN bao nhiêu là hợp lý? Thật khó để đánh giá được tỷ lệ nợ như thế nào là hợp lý với DN. Tỷ lệ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Hình thức DN, quy mô DN hay mục đích vay… Nhưng thông thường, hệ số nợ thấp thể hiện DN có mức độ an toàn cao, rủi ro tài chính thấp. Ngược lại, DN có hệ số nợ cao sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Một trong những yếu tố quan trọng của sự cân đối tài chính, đó là tài sản dài hạn cần được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn tương ứng. Một DN tài trợ cho 1 dự án đầu tư dài hạn 15 năm chỉ bằng khoản vay 6 năm, sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn và đem đến áp lực về khả năng thanh toán cho DN. Để sớm nhận biết điều này, cần quan sát xu hướng biến động của Vốn lưu động thuần (NWC):

NWC = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Nếu NWC có xu hướng giảm dần và đặc biệt chuyển sang âm lớn báo hiệu sự xuất hiện ngày càng rõ rệt của mất cân đối tài chính. NWC < 0, cho thấy DN đã dùng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn. Điều này là rất mạo hiểm ảnh hưởng đến cân đối nguồn vốn của DN.

Thứ năm, phân tích khả năng sinh lời: DN hoạt động là vì mục tiêu lợi nhuận, do đó, lợi nhuận sẽ là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư, SXKD. Thông qua phân tích khả năng sinh lời, sẽ đánh giá được hiệu quả hoạt động của DN.

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/doanh thu: Chỉ số này thể hiện: 1 đồng doanh thu thuần thì DN thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế? Nó phản ánh hiệu quả trong việc quản lý chi phí của DN. DN có tỷ lệ ROS ổn định và cao hơn đối thủ là những DN có lợi thế cạnh tranh lớn, quản trị chi phí tốt. Tỷ suất ROS phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh, chiến lược cạnh tranh của DN.

- Tỷ suất lợi nhuận gộp (hay Biên lợi nhuận gộp): Chỉ số này phản ánh hiệu quả của việc quản lý chi phí sản xuất của DN (nguyên vật liệu, nhân công...), khả năng tạo ra lợi nhuận, cũng như khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường. “Từ 1 đồng doanh thu thuần, DN thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp” – là ý nghĩa của chỉ số này.

DN duy trì một biên lợi nhuận gộp cao, ổn định qua nhiều năm thường là DN có lợi thế cạnh tranh tốt, sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường.

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản:

Hệ số này phản ánh: 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế? Hay hiệu quả sử dụng tài sản của DN ra sao? Thông thường, ROA càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh tốt. Với những DN trong ngành cơ bản như sắt thép, giấy, hóa chất… thì ROA là chỉ tiêu rất quan trọng. Vì những DN này sử dụng tài sản dài hạn là máy móc, thiết bị… để nâng cao tỷ suất lợi nhuận. ROA cao thể hiện việc DN quản lý hiệu quả chi phí khấu hao, chi phí đầu vào tốt.

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu: Đây là một chỉ tiêu được các nhà đầu tư quan tâm.

Hệ số này thể hiện: Mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra trong kỳ. ROE càng cao, thể hiện hiệu quả trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu càng cao. Chỉ số này phản ánh tổng hợp các khía cạnh về trình độ quản trị tài chính, trình độ quản trị chi phí, trình độ quản trị tài sản, trình độ quản trị nguồn vốn của DN. Dựa và ROE, bạn cũng có thể đánh giá liệu DNđó có lợi thế cạnh tranh hay không?

Những DN có ROE cao (thường trên 20%) và ổn định trong nhiều năm (kể cả khi thị trường khó khăn) là những DN có lợi thế cạnh tranh bền vững. Tuy nhiên, ROE cao quá cũng không phải là tốt. Có thể hoạt động kinh doanh của DN không có gì thay đổi, nhưng DN lại đang mua lại cổ phiếu, hoặc DN này đang tách ra từ công ty mẹ khiến cho vốn cổ phần giảm, ROE tăng.

- Thu nhập một cổ phần thường

Chỉ tiêu phản ánh: 1 cổ phần thường trong năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế? Hay còn gọi là chỉ số EPS. EPS cao phản ánh năng lực kinh doanh của DN mạnh. DN có tiền để trả cổ tức cho cổ đông nhiều hơn, tuy nhiên, không phải cứ cổ phiếu có EPS cao là đáng mua.

Thứ sáu, phân tích dòng tiền: Mục đích của việc phân tích dòng tiền là đánh giá năng lực tài chính, cũng như chất lượng dòng tiền của DN.

- Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh/Doanh thu thuần: Tỷ lệ này cho chúng ta biết DN nhận được bao nhiêu đồng trên 1 đồng doanh thu thuần? Tỷ lệ này càng cao càng tốt và nên so sánh với dữ liệu quá khứ để phát hiện ra những sai khác.

- Tỷ suất dòng tiền tự do: Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng dòng tiền của DN. Dòng tiền tự do phản ánh số tiền sẵn có nhằm sử dụng cho các hoạt động của DN.

Trong đó:

Dòng tiền tự do = Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh – Dòng tiền đầu tư cho TSCĐ

Như vậy, dòng tiền tự do càng lớn, chứng tỏ tình hình tài chính của DN càng tích cực. Ngoài ra, việc quan sát dòng tiền trong 1 giai đoạn dài sẽ giúp xác định được DN đang trong giai đoạn nào của chu kỳ kinh doanh. Đây là yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định có tài trợ vốn cho DN hay không?

Tóm lại, nếu biết cách khai thác các thông tin từ phân tích BCTC, ngân hàng sẽ nắm trong tay công cụ đắc lực đối với công tác phân tích tài chính khách hàng. Đây cũng là biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong công tác kiểm toán tín dụng hiện nay. Tuy nhiên, kiểm tra trên BCTC không phải là tất cả các công việc cần thực hiện, để công tác kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay và tài sản đảm bảo tiền vay đạt hiệu quả cao nhất, ngân hàng cần phải kết hợp cả kiểm tra BCTC của DN với tình hình SXKD thực tế của DN để có được những quyết định chuẩn xác.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Trọng Cơ, Nghiêm Thị Thà (2015), Giáo trình phân tích tài chính DN,

2. NXB Tài chính;

3. Nguyễn Văn Công ( 2013), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân;

4. Phan Tiến Dũng (2011), Phân tích BCTC, NXB Thống kê;

5. Đinh Thế Hiển (2007), Quản trị tài chính công ty lý thuyết và ứng dụng, NXB Thống kê;

6. Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh (2013), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM