Xóa nợ thuế: Cần thiết nhưng phải đúng đối tượng

(Taichinh) -

Bộ Tài chính vừa có văn bản lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về xử lý nợ, khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt không có khả năng thu hồi. Nhiều ý kiến cho rằng, việc xóa nợ thuế theo đề xuất này là rất cần thiết.

Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Theo Bộ Tài chính, do những khó khăn khác nhau, số tiền nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt tồn đọng của nhiều năm đến nay còn lớn. Cụ thể, tính đến ngày 31/12/2017, tổng nợ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt do ngành thuế quản lý là hơn 73.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tổng số nợ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt do ngành Hải quan quản lý tính đến hết 2017 là hơn 5.400 tỷ đồng. Số nợ này tăng 23,5% so với thời điểm 31/12/2016.

Như vậy, tổng số nợ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt do cả ngành Thuế và Hải quan quản lý là khoảng trên 35.300 tỷ đồng. Số tiền này chiếm khoảng 2,75% tổng thu thuế, phí, lệ phí năm 2017 và chiếm gần một nửa số nợ thuế.

Qua tổng kết tình hình thực hiện quản lý nợ thuế và tham khảo kinh nghiệp quốc tế, Bộ Tài chính trình Chính phủ báo cáo Quốc hội xóa nợ tiền chậm nộp thuế đối với người nộp thuế cung ứng hàng hóa, dịch vụ được thanh toán bằng vốn ngân sách hoặc có nguồn chi từ ngân sách nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên không nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến phát sinh tiền chậm nộp, tiền phạt nộp chậm. Số tiền chậm nộp đề nghị xóa ước tính đến 31/12/2015 là hơn 542 tỷ đồng.

Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đề nghị xóa nợ tiền phạt chậm nộp thuế của các khoản nợ thuế phát sinh trước năm 2018 của người nộp thuế gặp thiên hai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp khó khăn bất khả kháng. Mức xóa tiền chậm nộp thuế không vượt quá giá trị thiệt hại. Tổng số nợ ước tính xóa đến thời điểm 31/12/2017 vào khoảng 1.700 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đề nghị xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với những trường hợp không còn khả năng thu do người nộp thuế thực tế đã giải thể (trừ trường hợp giải thể để chia tách, sáp nhập, chuyển đổi), phá sản hoặc chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh, thực tế không còn hoạt động trước năm 2017. Số tiền ước tính lên đến hơn 24,3 nghìn tỷ đồng. Hiện nay, đối tượng này không còn khả năng nộp ngân sách và đã được cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Như vậy, tổng số tiền Bộ Tài chính đề nghị xóa cho các trường hợp kể trên là hơn 26.500 tỷ đồng.

Ngoài xóa nợ, một giải pháp khác được nêu lên khoanh nợ (tạm thời chưa thu và không tính tiền chậm nộp thuế) đối với người nộp thuế nợ tiền thuế đã chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh quá 1 năm, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Thống kê cho thấy, số tiền chậm nộp của trường hợp “không còn đối tượng để thu này” không ngừng tăng lên, cụ thể là 200 tỷ đồng/tháng (trung bình 2.400 tỷ đồng/năm). Trong khi đó, việc quy định tính tiền chậm nộp thuế như hiện hành làm tăng thêm số liệu nợ ảo trên sổ sách theo dõi của cơ quan quản lý thuế, tăng gánh nặng phải điều chỉnh xử lý cho cơ quan quản lý thuế.

Theo LS. Lê Thị Hồng Vân - Giám đốc Công ty Luật TNHH Labor Law, xóa nợ cho các doanh nghiệp theo đề xuất của Bộ Tài chính là việc cần làm bởi thực tế nếu có “đè” bằng biện pháp nào đi chăng nữa cũng không thể đòi nợ được, trừ khi có căn cứ để khởi tố hình sự về tội trốn thuế.
Tuy nhiên, để việc xử lý nợ, khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt không có khả năng thu hồi này có hiệu quả, nhiều ý kiến cho rằng, trước hết cần phải có quy định và xác định đúng đối tượng nằm trong diện xóa nợ, để tránh tình trạng “trốn nợ” hoặc trục lợi ăn theo các quy định pháp luật.
Cụ thể, đối tượng phải là những doanh nghiệp đã được xác định chính xác là không còn hoạt động trên thực tế; hoặc những trường hợp bị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy phép, nhằm tránh việc một doanh nghiệp “đẻ” thêm doanh nghiệp nữa và cố tình đẩy “doanh nghiệp mẹ” vào tình trạng “hấp hối” để trốn tránh các nghĩa vụ thuế.

PV. (Tổng hợp)

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục