Giải đáp về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam

(Taichinh) -

Trả lời ý kiến của độc giả Mai Lan về nội dung liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sử dụng đất tại Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn cụ thể.
Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Bà Mai Lan (Hà Nội) hỏi: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài muốn xây dựng nhà máy ở Việt Nam có nhất thiết phải xây trong khu công nghiệp không? Nếu không thì khu vực đất nào doanh nghiệp có thể xây dựng nhà máy? 

Bà Lan cũng muốn biết, trường hợp đất mà doanh nghiệp nước ngoài đã được phê duyệt nhưng 2 năm vẫn chưa thực hiện thì doanh nghiệp có thể chuyển đổi cho doanh nghiệp khác được không? Doanh nghiệp nhận chuyển nhượng có nhất thiết phải hoạt động đúng theo ngành nghề đã được phê duyệt đầu tư không?

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Hiện nay, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sử dụng đất tại Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư theo các cơ chế sau:

- Thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (Điều 149, Điều 150, Điều 151 Luật Đất đai).

- Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Cụ thể, Nhà nước cho thuê đất (đất đã giải phóng mặt bằng hoặc đất do tổ chức đang quản lý không phải giải phóng mặt bằng) để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh, đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê (Điều 8, Khoản 1, Điều 52 ; Điểm đ, Khoản 1, Điều 56 Luật Đất đai).

Nhà nước giao đất để thực hiện dự án nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê (Điều 8, Khoản 1, Điều 52 ; Khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai).

- Nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế trong nước để thành lập doanh nghiệp liên doanh (Điểm e, Khoản 1, Điều 169 Luật Đất đai).

- Nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (Điểm b, Khoản 1, Điều 169 Luật Đất đai).

- Nhận chuyển nhượng dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về kinh doanh bất động sản.

- Sử dụng đất thông qua việc chuyển đổi công ty, chia tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp (Điều 83 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Điều 8, Điều 9, Điều 10 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT).

Trường hợp doanh nghiệp không đưa đất vào sử dụng

Theo quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 64 Luật Đất đai thì trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

Do bà không nêu rõ doanh nghiệp nước ngoài sử dụng đất theo hình thức nào nên không thể trả lời cụ thể. Tuy nhiên, để thực hiện được các quyền của người sử dụng đất thì phải bảo đảm các điều kiện được quy định tại các Điều 188, 189, 191, 193 và 194 của Luật Đất đai.

Người nhận chuyển quyền sử dụng đất phải sử dụng đất theo đúng mục đích đã được phê duyệt.



PV.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục