VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
 Tác động của đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế thế giới như thế nào?

Tác động của đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế thế giới. Nguồn: internet

Tác động của đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế thế giới như thế nào?

GDP của Mỹ đã giảm với tốc độ kỷ lục. IMF dự đoán GDP Mỹ sẽ giảm 6,6% trong năm nay. Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai, sẽ như thế nào trong làn sóng đại dịch? Nền kinh tế của Eurozone giảm 12,1% trong quý II/2020 so với quý đầu tiên.

Cảnh báo về các công ty "xác sống" trong đại dịch Covid-19

Các nhà máy vượt qua được tình cảnh ảm đạm trong tháng 8

Trung Quốc đã có nhiều bước tiến trong thực hiện cam kết của thỏa thuận thương mại

Cổ phiếu công nghệ của Mỹ hiện có giá trị lớn hơn toàn bộ thị trường chứng khoán châu Âu

Hiện các quốc gia đều đang đánh giá đại dịch COVID-19 tác động ra sao đối với kinh tế thế giới. Mặc dầu còn có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất rằng, kinh tế toàn cầu sau đại dịch sẽ rất khác so với trước đây. Các chuyên gia Ấn Độ bình luận rằng: "Thế giới mà chúng ta từng hiểu rõ và quen thuộc, nhiều khả năng sẽ trở thành ký ức lịch sử".

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger thì cho rằng: "Đại dịch COVID-19 sẽ làm thay đổi trật tự thế giới". IMF chỉ ra rằng, COVID-19 là cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng nhất kể từ chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây. Mức độ nghiêm trọng đã vượt xa khủng hoảng tài chính 2008, thậm chí vượt cả Đại suy thoái ở Mỹ vào những năm 1930.

Giới phân tích phố Wall đánh giá đại dịch sẽ khiến GDP toàn cầu mất ít nhất hơn 5.000 tỷ USD. Riêng Hoa Kỳ, nền kinh tế hàng đầu thế giới, có khả năng sẽ trải qua một chu kỳ yếu kém trong thời gian dài, khi kết hợp với mức nợ cao, sẽ có những ảnh hưởng đến chi tiêu liên bang và thậm chí có thể là khả năng của Washington trong việc thực hiện ảnh hưởng toàn cầu khi đất nước hướng nội.

Đến nay, chính phủ Mỹ đã cam kết chi hơn 3.000 tỷ USD để giải cứu nền kinh tế. Tuy nhiên, số ca nhiễm COVID-19 tại Mỹ vẫn tiếp tục tăng trong khi các chương trình cứu trợ sắp kết thúc. Hơn 5 triệu người Mỹ đã nhiễm virus và trên 160.000 người tử vong. Số ca mắc mới hàng ngày tăng gấp ba so với tháng 5. Một số bang như Texasvà California đã phải áp dụng lại các biệnpháp giãn cách xã hội. Với các nền kinh tế lớn khác cũng đang lao đao vì dịch COVID-19.

Riêng sức khỏe của nền kinh tế Mỹ là một vấn đề rất lớn. Nền kinh tế Mỹ chiếm khoảng 1/4 GDP toàn cầu. Người Mỹ mất việc làm đồng nghĩa với việc chi tiêu của họ giảm, nhập khẩu vào Mỹ sụt và đầu tư vào sản xuất ở các khu vực khác lao dốc. Nhập khẩu của Mỹ trong 5 tháng đầu nămgiảm hơn 13%, tương đương 176 tỷ USD, so với cùng kỳ năm ngoái. Tại Đức, xuất khẩu sang Mỹ giảm tới 36% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu ôtô lao dốc 24%. Các nhà phân tích cho rằng tình trạng ảm đạm này sẽ tiếp diễn. IMF dự đoán GDP Mỹ sẽ giảm 6,6% trong năm nay.

Trung Quốc, nền kinh tế thứ hai thế giới, sẽ như thế nào trong làn sóng đại dịch? Nhà phân tích Cary Huang của báo SCMP (HongKong) nhận định Trung Quốc sẽ trả một cái giá đắt sau dịch COVID-19 và đánh mất một phần sức ảnh hưởng trên toàn cầu. Giống như nhiều thảm họa từng xảy ra trong lịch sử nhân loại, đại dịch COVID-19 sẽ tác động mạnh lên cục diện địa chính trị toàn cầu. Nhiều thay đổi chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng câu hỏi quan trọng là Trung Quốc sẽ mạnh hơn hay yếu đi sau cuộc chiến quyền lực với Mỹ lần này?

Cho đến giờ, Trung Quốc tỏ ra ổn hơn các nền kinh tế lớn khác nhờ khốngchế dịch thành công. Dù mức suy giảm kinh tế trong quý I/2020 cao hơn Liên minh Châu Âu (EU) và Mỹ (-6,8% so với -3,5% và -4,8%), Trung Quốc được dự báo sẽ phục hồi phần nào trong quý II, trong khi - Mỹ sẽ tệ hơn trong giai đoạn này. Nhìn chung, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo kinh tế toàn cầu sẽ giảm khoảng 3% trong năm 2020, cú suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ giai đoạn Đại khủng hoảng thập niên 1930.

Trong 3 nền kinh tế lớn nhất, EU dự báo giảm -7,5%, Mỹ giảm -5,9%, và Trung Quốc tăng 1,2%. GDP của Trung Quốc năm ngoái là 14.000 tỷ USD,tương đương 2/3 của Mỹ (21.000 tỷ USD), và khoảngcách này sẽ rút ngắn thêm. Nếu xu hướng kinh tế này duy trì, hai nền kinh tế sẽ đạt kích cỡ bằngnhau trong vòng một thập kỷ tới, sớm hơn nhiều so với dự báo trước đây.

Nhưng đó là một chữ "Nếu" rất lớn. Thế giới hậu COVID-19 ẩn chứa đầy những bất trắc và thách thức dành cho Trung Quốc, có lẽ ở quy mô quốc gia này chưa từng gặp kể từ khi mở cửa với chủ nghĩa tư bản toàn cầu hồi thập niên 1970. Đại dịch COVID-19, cùng với cuộc cạnh tranh kinh tế, thương mại Mỹ - Trung, xảy ra vào giai đoạn kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm nhất.

Xu hướng đi xuống nói trên càng tăng tốc từ khi Tổng thống Donald Trump phát động cuộc chiến thuế quan với Bắc Kinh năm 2018. Trung Quốc tăng trưởng 6,1% năm ngoái là mức thấp nhất kể từ năm 1990. Đặt trong bối cảnh chiến tranh thương mại với Mỹ, con số năm nay sẽ còn thấp hơn.

Hiện tại Mỹ đang duy trì thuế trừng phạt đối với gần 2/3 hàngxuất khẩu của Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ nhận ra một thế giới rất khác, một thế giới thống trị bởi nghị trình kinh tế "thoát Trung", những tranh cãi về nguồn gốc con virus và yêu cầu đòi bồi thường của Mỹ và các nước khác.

Nhiễm COVID-19 gia tăng sẽ làm chậm quá trình phục hồi kinh tế của khu vực đồng euro bằng cách buộc các chính phủ phải đưa ra lại các biện pháp khóa cửa làm suy yếu hoạt động kinh doanh. Các cuộc suy thoái trên toàn khối có thể kéo dài đến năm 2021, giữ cho tiêu dùng, đầu tư và thương mại ở dưới mức trước đại dịch trong vài tháng nữa, đồng thời làm tăng khả năng bất ổn trong kinh doanh và bất ổn trong xã hội.

Nền kinh tế của khu vực đồng euro giảm 12,1% trong quý thứ hai năm 2020 so với quý đầu tiên, theo dữ liệu của Eurostat công bố vào ngày 31/7. Điều này cho thấy mức giảm hàng quý hàng năm là 47,8%. Hoạt động kinh tế trong quý 3 có thể sẽ tốt hơn một chút kể từ khi các chính phủ Châu Âu bắt đầu dỡ bỏ các biện pháp khóa tài khoản vào giữa tháng 5. Các gói kích thích kinh tế gần đây của chính phủ sẽ giúp tiêu dùng trong nước cải thiện, mặc dù thương mại có thể phục hồi với tốc độ chậm hơn do suy thoái toàn cầu.

Nhưng các trường hợp COVID-19 gia tăng hiện đang buộc các chính phủ phải áp dụng lại các biện pháp kiểm dịch và cách xa xã hội, điều này sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế trong tương lai. Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ gần đây đã thắt chặt các biện pháp ngăn cách xã hội của họ. Ý gần đây cũng đã gia hạn tình trạng khẩn cấp (dự kiến kết thúc vào ngày 31/7) đến ngày 15/10, cho phép nước này nhanh chóng áp dụng lại các biện pháp khóa cửa nếu cần.

Theo nhận định của giới chuyên gia, từ Mexico tới Nhật Bản, chính phủ các quốc gia đang vô cùng lo lắng. Xuất khẩu của Đức đã lao dốc, trong khi Canada nhìn về phía nam với nhiều quan ngại, bởi tăng trưởng Mỹ sụt giảm sẽ lập tức ảnh hưởng trực tiếp đến quốc gia láng riềng.

"Thế giới sẽ đối mặt với nhiều tháng, thậm chí nhiều năm rất khó khăn. Vấn đề lớn nhất là các ca nhiễm COVID-19 vẫn tiếp tục tăng", đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định. Tổ chức này cho rằng bất ổn xã hội leo thang do đói nghèo sẽ là một trong những rủi ro lớn nhất của nền kinh tế toàn cầu.

Nền kinh tế Mỹ vẫn chưa thể hoạt động trở lại do dịch COVID-19 diễn biến phức tạp. Theo IMF, thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế thế giới trong thời gian tới là một bộ phận lớn dân số Mỹ sống chật vật với tình trạng mức sống suy giảm và khó khăn kinh tế. Khi đó, nhu cầu tiêu dùng tại Mỹ trượt dốc, ảnh hưởng đến tăng trưởng toàn cầu.

Sự không chắc chắn liên tục về các biện pháp giải cứu trong tương lai và khả năng dỡ bỏ các nỗ lực kích thích quốc gia có thể dẫn đến nguy cơ phá sản, khủng hoảng tài chính và bất ổn xã hội sẽ vẫn cao trong những tháng tới. Ngày 29/7, Ban giám sát của Ngân hàng Trung ương Châu Âu cảnh báo rằng các ngân hàng trong khu vực đồng euro có thể gặp khó khăn nếu các cuộc suy thoái hiện nay ngày càng sâu sắc và xói mòn vị thế vốn của họ.

Mặc dù việc một ngân hàng tư nhân không đáp ứng các yêu cầu về vốn của ECB sẽ không gây ra cuộc khủng hoảng ngân hàng ở khu vực đồng euro, nhưng nó sẽ gửi một tín hiệu tiêu cực đến thị trường, nhà đầu tư và người tiết kiệm. Điều kiện kinh tế tồi tệ hơn đã dẫn đến các cuộc biểu tình chống chính phủ ở Bulgaria và Serbia.

Đối với các nước Tây Âu, khả năng xảy ra bất ổn xã hội sẽ tăng lên nếu các chính phủ bắt đầu dỡ bỏ các biện pháp khẩn cấp đã được đưa ra trong quý II. Trong những tháng gần đây, các công ty lớn - như Ryanair của Ireland, Renault và Air France của Pháp, Lufthansa và Thyssenkrupp của Đức - đều đã thông báo cắt giảm việc làm đáng kể. Hàng trăm nghìn công ty vừa và nhỏ trên khắp Châu Âu cũng đã đóng cửa do đại dịch.

Để đảm bảo các doanh nghiệp có thể tồn tại lâu hơn cuộc khủng hoảng hiện tại, các chính phủ sẽ buộc phải tăng cường hỗ trợ cho các tập đoàn ở mọi quy mô, hoặc thậm chí có khả năng xem xét nắm giữ cổ phần trong đó. Tuy nhiên, những nỗ lực kích thích tốn kém như vậy sẽ đến vào thời điểm thâm hụt và mức nợ của các chính phủ EU đang tăng lên.

Đối với Nhật Bản, tốc độ phục hồi kinh tế gắn chặt với sức khỏe của nền kinh tế Hoa Kỳ. "Sự phục hồi của kinh tế Nhật Bản sẽ bị trì hoãn nếu dịch vẫn hoành hành tại Mỹ và xuất khẩu từ các nước châu Á sang Mỹ không tăng trở lại", nhà kinh tế Hideo Kumano, cựu quan chức Ngân hàng Nhật Bản, nhấn mạnh.

Ngân hàng Canada bi quan hơn khi cho rằng GDP Mỹ có thể lao dốc tới 8,1%. Đây sẽ là cơn ác mộng với Canada bởi 75% hàng xuất khẩu của nước này đi tới Mỹ. Tại biên giới phía nam nước Mỹ, Mexico cũng đang chật vật vì số ca nhiễm tăng kỷ lục mỗi ngày. Các nhà kinh tế dự báo GDP Mexico sẽ giảm 10% trong năm nay.

Tổng thống Andres Manuel Lopez Obrador hi vọng thỏa thuận thương mại ba bên giữa Mỹ, Mexico và Canada - có hiệu lực từ ngày 1/7 - sẽ thúc đẩy đầu tư và kinh doanh Mexico. Tuy nhiên, việc người Mỹ mất việc, bị giảm thu nhập sẽ ảnh hưởng nặng nề đến tiêu thụ toàn cầu. Nhà kinh tế Elizabeth Crofoot thuộc Conference Board khẳng định: "Chúng ta đang tiến một bước nhưng lùi hai bước".

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM