Phát triển đồng bộ hạ tầng thanh toán có tính kết nối nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt

Theo Phương Chi/thitruongtaichinhtiente.vn

Bên cạnh hoàn thiện các văn bản pháp lý nhằm tạo điều kiện cho thanh toán không tiền mặt phát triển, việc đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ thanh toán có tính đồng bộ, kết nối là rất cần thiết, từ đó có thể giảm thiểu chi phí đầu tư của xã hội và đạt được mức chi phí thấp cho người dân.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Có thể nói, thời gian qua, cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), nhất là thanh toán điện tử, tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của xã hội và thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Hạ tầng công nghệ thanh toán - “bệ đỡ” cho thanh toán không tiền mặt

Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tiếp tục được nâng cấp theo hướng tập trung, hiện đại, đóng vai trò là hệ thống thanh toán xương sống quốc gia, kết nối với các hệ thống khác trong nền kinh tế. Trong 2 tháng đầu năm 2021, tổng số lượng giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 4,84% về số lượng và tăng 17,07% về giá trị giao dịch so với 2 tháng đầu năm năm 2020. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử của Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas) cũng có sự tăng trưởng nhanh chóng tương ứng 102,06% về số lượng và 137,31% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo việc xây dựng và chính thức vận hành Hệ thống thanh toán bù trừ tự động các giao dịch bán lẻ (ACH) (từ tháng 7/2020) với khả năng thanh toán thời gian thực, hoạt động liên tục 24x7, xử lý giao dịch đa kênh. Tiêu chuẩn kỹ thuật được triển khai xuyên suốt trong toàn bộ hạ tầng ACH dựa trên tiêu chuẩn ISO 20022 có khả năng mở rộng nhanh và dễ dàng tích hợp giữa các hệ thống.

Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thanh toán thẻ cũng được cải thiện chất lượng, tập trung đầu tư phát triển. Tính đến nay, trên toàn quốc có gần 20.000 ATM và hơn 280 nghìn POS.

Không những thế, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động nghiên cứu và ban hành các văn bản quy định kịp thời, phù hợp nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động chuyển đổi số như: hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, trung gian thanh toán, mở tài khoản và nhận biết khách hàng bằng phương thức điện tử eKYC, cung ứng dịch vụ ngân hàng điện tử, ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật (QR code, thẻ Chip nội địa,..) tăng cường chuẩn hóa, tăng tính liên thông trong ngành Ngân hàng và giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác.

Phía các ngân hàng thương mại cũng đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ hiện đại, thân thiện, tiện lợi mang lại trải nghiệm và lợi ích thiết thực cho khách hàng; đồng thời, từng bước xây dựng hạ tầng số tập trung, chuẩn hóa, tích hợp tạo hệ sinh thái số trải rộng như: hệ sinh thái mobile banking kết nối với dịch vụ công, tài chính, viễn thông, điện lực, giao thông, y tế… Đến nay có trên 78 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai thanh toán qua Internet và 47 tổ chức thanh toán qua điện thoại di động.

Dịch vụ thanh toán thẻ tiếp tục được các ngân hàng quan tâm phát triển. Các ngân hàng thương mại đã tích hợp thêm nhiều tính năng vào thẻ ngân hàng để sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ; đồng thời, chất lượng dịch vụ thẻ cũng như độ an toàn trong thanh toán thẻ được các ngân hàng chú trọng và nâng cao. Trong năm 2020, số lượng giao dịch qua POS có mức tăng trưởng tốt, đạt trên 362,2 triệu giao dịch, tăng khoảng 16,7% so với năm 2019.

Ngoài ra, thanh toán qua ví điện tử cũng thu hút nhiều khách hàng. Theo Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước), tính đến hết ngày 25/5/2021, tại Việt Nam có 43 tổ chức không phải là ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó có 40 tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử và 36 tổ chức đã cung ứng dịch vụ ví điện tử ra thị trường. Thanh toán điện tử qua Internet, điện thoại di động, QR code đạt được kết quả đáng ghi nhận. So với cùng kỳ 2 tháng đầu năm 2020, giao dịch qua kênh Internet tăng tương ứng 45% về số lượng và 22 % về giá trị; giao dịch qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 77% về số lượng và  97% về giá trị; giao dịch qua kênh QR code tăng tương ứng 92% về số lượng và 161% về giá trị. Thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công đã mở rộng về số lượng dịch vụ triển khai, về quy mô xử lý và chất lượng dịch vụ, với  92,3% các giao dịch thu ngân sách được thực hiện qua ngân hàng hay 94,35% số tiền điện được thanh toán qua ngân hàng.

Mặc dù cơ sở hạ tầng cho thanh toán số đã phát triển mạnh, từ đó thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập. Hiện còn không ít các tổ chức tài chính (gồm ngân hàng, trung gian thanh toán và ví điện tử) xây dựng hệ thống trang thiết bị thanh toán riêng tại một điểm chấp nhận thanh toán, do vậy, vừa lãng phí lại không tận dụng được hạ tầng chung. Hệ thống thanh toán hiện đại còn chưa phổ cập tới các vùng miền. Khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa thì hầu như không có sự hiện diện. Hơn nữa, hạ tầng thanh toán số trên di động như hóa đơn điện, nước, truyền hình, điện thoại, internet, bảo hiểm, tài chính cá nhân, hành chính công... đã được triển khai nhưng phạm vi chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Gần đây, các hoạt động thanh toán xuyên biên giới có chiều hướng gia tăng cũng là thách thức cho cơ quan quản lý. Ngoài ra, thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng còn chưa thực sự phổ biến do thói quen sử dụng tiền mặt và hạ tầng kỹ thuật còn chưa sẵn sàng trong việc kết nối giữa các trường học, công ty nước và ngân hàng; chưa có hệ thống dữ liệu tập trung, chuẩn hóa dẫn đến khó khăn trong triển khai tích hợp, kết nối…

Từ phát triển hạ tầng đến hoàn thiện pháp lý nhằm thúc đẩy thanh toán số

Để giải quyết tồn tại về hạ tầng thanh toán số hiện nay tại Việt Nam, việc quy hoạch thiết kế xây dựng “Hạ tầng thanh toán số quốc gia” đồng bộ, thống nhất, dùng chung là cần thiết. Việc này cho phép các tổ chức tài chính trong nước, quốc tế sử dụng hạ tầng mạng lưới rộng khắp của các đơn vị viễn thông để triển khai các dịch vụ cho người dân với chi phí thấp.

Các cơ quan liên quan như các ngân hàng, tổ chức tài chính, các trung tâm thương mại, sàn thương mại điện tử, cơ sở kinh doanh, dịch vụ cần xây dựng hạ tầng mạng lưới các điểm chấp nhận thanh toán điện tử (từ siêu thị, khách sạn, nhà hàng, cho tới cửa hàng tạp hoá…) rộng khắp; Xây dựng hệ thống thanh toán hoá đơn điện tử tập trung (từ y tế, giáo dục, dịch vụ công, cho tới điện, nước, truyền hình, điện thoại…) và kết nối liên thông tới toàn bộ cơ quan thuế tại Trung ương cũng như địa phương. Hạ tầng chấp nhận thanh toán dùng chung này đáp ứng mọi phương tiện thanh toán được phát hành bởi các ngân hàng, trung gian thanh toán, các tổ chức tài chính, các tổ chức thanh toán trong và ngoài nước. Trên cơ sở sử dụng hạ tầng chuyển mạch bù trừ để kết nối, các thành phần tham gia không cần phải lắp đặt riêng các thiết bị máy POS, QR code, NFC… do đó giảm thiểu chi phí đầu tư của xã hội và đạt được mức chi phí thấp cho người dân.

Về phía các cơ quan quản lý nhà nước, cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh toán số, chuyển đổi số ngân hàng, ưu tiên vào các nội dung liên quan đến ứng dụng công nghệ số như: thu thập, khai thác, xử lý và chia sẻ dữ liệu khách hàng; giao dịch điện tử; xây dựng và triển khai Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng; ban hành các tiêu chuẩn dữ liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật,...

Bên cạnh đó, mở rộng và phát triển Hệ thống chuyển mạch và bù trừ điện tử cho các giao dịch thanh toán bán lẻ hướng tới thiết lập hạ tầng thanh toán thống nhất, đồng bộ, có khả năng tích hợp, kết nối các ngành, lĩnh vực khác, từ đó mở rộng hệ sinh thái số; Nghiên cứu và triển khai hạ tầng tập trung để cho phép kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, các ngành, lĩnh vực để khai thác, tổng hợp dữ liệu phục vụ xác minh thông tin, phân loại, đánh giá khách hàng; xây dựng hành lang pháp lý về bảo vệ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu người dùng trên môi trường mạng, đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu xây dựng Luật Giao dịch điện tử,…

Đồng thời, các tổ chức tài chính cần tiếp tục triển khai các chương trình giáo dục tài chính cho người dân, doanh nghiệp để nâng cao kỹ năng và khả năng tiếp cận, sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số một cách an toàn, hiệu quả.