Chính phủ tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo an toàn tài chính quốc gia

Theo mof.gov.vn

(Tài chính) Chiều 30-10, tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã phát biểu ý kiến, trao đổi rõ hơn với đại biểu Quốc hội về quản lý và sử dụng nợ công.

Chính phủ tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo an toàn tài chính quốc gia
Quang cảnh phiên họp Quốc hội. Nguồn: mof.gov.vn

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, trong thời gian qua, các chỉ số về nợ công vẫn trong giới hạn Quốc hội cho phép nhưng đứng trước nhiều khó khăn và thách thức. Tuy nhiên, về sử dụng tiền vay, qua tổng kết cho thấy, chúng ta vay để đầu tư chiếm 98,4%.

Theo Bộ trưởng, năm 2011 nợ công bằng 50% GDP, năm 2012 là 50,8% GDP, năm 2013 là 54,2%, năm 2014 ước khoảng 60,3% và năm 2015 là 64% GDP. Do đó, thứ nhất phải đảm bảo nợ Chính phủ và nợ quốc gia không được vượt quá 50%, nợ công không quá 65% GDP. Thứ hai, đảm bảo trả đầy đủ kịp thời nợ đến hạn và không phát sinh nợ xấu. Thứ ba, cơ cấu các khoản nợ vay trong nước góp phần giảm phụ thuộc vào phần vốn vay nước ngoài và giảm rủi ro tỷ giá.

Áp lực huy động vốn hàng năm rất lớn, mặc dù đã có xu hướng giảm trong những năm gần đây, nhưng việc sử dụng các khoản vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn tạo áp lực tăng nhanh. Khâu huy động và phân bổ vốn vay chủ yếu xuất phát từ đề xuất của bộ ngành địa phương, chưa đặt trong mối quan hệ chặt chẽ cân đối với nguồn lực khác, chưa bám sát vào hạn mức nợ được cấp có thẩm quyền phê duyệt xác định mức vay, mức nợ cho phù hợp, chưa gắn trách nhiệm người quyết định vay và người sử dụng có hiệu quả vốn vay.

Nhiều dự án chưa chuẩn bị tốt khâu chuẩn bị đầu tư, thẩm định, phê duyệt dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện, dẫn đến giảm hiệu quả đầu tư. Nhiều dự án điều chỉnh tăng quy mô dẫn đến tăng vay nợ tạo áp lực gia tăng nợ công.

Công tác tổ chức và quản lý nợ công còn phân tán ở nhiều đầu mối, bộ ngành địa phương, năng lực giám sát hạn chế, hệ thống dữ liệu chưa được chuẩn hóa, công tác phối hợp  chưa tốt...

Nghĩa vụ trả nợ của ngân sách Nhà nước có xu hướng tăng nhanh đặc biệt là trong vài năm tới, một số dự án vay lại nguồn vốn vay của Chính phủ không hiệu quả làm phát sinh nợ dự phòng, làm tăng chi trả nợ trực tiếp của Chính phủ.

Bộ trưởng cho biết, do cân đối ngân sách khó khăn, nên bố trí trả nợ thấp hơn so với nhu cầu, phải thực hiện phát hành đảo nợ phần nợ gốc. Ta phải đảo nợ để kéo dài thời hạn nợ và rất may nghĩa vụ lãi suất không tăng so với kỳ hạn trước, đồng thời tăng mức bảo lãnh cho 2 ngân hàng chính sách phát hành trái phiếu để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, tăng mức bảo lãnh cho các dự án lớn như dự án ngành điện, hàng không, điện hạt nhân...

Ngoài ra, thị trường vốn chưa phát triển, chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu phát hành trái phiếu Chính phủ hàng năm nên phải vay từ các nguồn vốn ngắn hạn, tạm thời khác với chi phí cao, làm tăng áp lực trả nợ ngắn hạn.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nợ công

Với những tồn tại qua 5 năm thực hiện Luật Quản lý nợ công, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã nêu ra một loạt giải pháp để tăng hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công.

Thứ nhất, trình Quốc hội thông qua Luật Ngân sách sửa đổi, Luật Quản lý nợ công sửa đổi để nâng cao hiệu quả quản lý nợ công.

Thứ hai, tập trung tháo gỡ khó khăn thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, chống thất thu qua buôn lậu, gian lận thương mại, đồng thời cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan tạo nguồn thu phát triển bền vững.

Thứ ba, triệt để tiết kiệm chi ngân sách, chống lãng phí trong chi thường xuyên và phát triển, quản lý chặt các khoản chi, tinh giảm biên chế, bộ máy, chi mua sắm tiết kiệm, giảm tối đa tổ chức hội nghị, hội thảo, đi công tác nước ngoài, kết hợp với cơ cấu lại cân đối ngân sách để dành tiền chi đầu tư trả nợ.

Thứ tư, rà soát tổng thể chương trình an sinh xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia 2011 - 2015 để cắt giảm, lồng ghép chính sách, xác định lộ trình chính sách phù hợp trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ năm, tiếp tục các giải pháp phát triển thị trường tài chính, trái phiếu trong nước để cơ cấu lại nợ công, tăng thêm khoản vay trung hạn, dài hạn, hạn chế huy động với thời hạn ngắn, lãi suất cao.

Thứ sáu, ưu tiên bố trí chi trả nợ, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay của Chính phủ, loại bỏ các dự án không hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ bảo lãnh của Chính phủ, chính quyền địa phương, nợ xây dựng cơ bản, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay về cho vay lại để giảm thiểu phát sinh nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính Phủ, tăng cường công tác quản lý nợ.

Thứ bảy, xây dựng kế hoạch tài chính ngân sách trung hạn 2011 – 2020, thực hiện tính đúng tính đủ mức bội chi, khống chế trần nợ công không quá 65%, nợ nước ngoài không quá 50%.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh, nợ công là nguồn vốn quan trọng để bổ sung cho đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Hơn 98% vốn vay được sử dụng trực tiếp cho các dự án hạ tầng, phần còn lại được đưa vào ngân sách nhà nước cho chi đầu tư (1,5%) và một phần chi sự nghiệp trong các dự án vay ODA theo cam kết (0,4%). Nhiều công trình quan trọng, thiết yếu về giao thông, điện, nước, thủy lợi, y tế, giáo dục... đã hoàn thành, phát huy hiệu quả và đang tiếp tục đầu tư xây dựng nhiều công trình mới, góp phần thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, qua đó sẽ tăng thu ngân sách và bảo đảm được nguồn trả nợ.

Bộ trưởng cho biết, trong thời gian tới, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương: (1) Tập trung quản lý chặt chẽ nợ công, nhất là các khoản vay mới (gồm vay của Chính phủ, vay được Chính phủ bảo lãnh và vay của chính quyền địa phương), bảo đảm trong giới hạn cho phép và an toàn tài chính quốc gia; tập trung đầu tư cho các công trình hạ tầng kinh tế xã hội thiết yếu theo quy hoạch. (2) Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, bảo đảm hiệu quả và theo đúng quy định. (3) Khẩn trương cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng nhanh tỷ trọng vay dài hạn với lãi suất thấp. (4) Kiểm soát chặt chẽ việc bảo đảm trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh và thu đủ nợ đối với các khoản vay về cho vay lại. (5) Bố trí nguồn từ ngân sách nhà nước trong giới hạn theo quy định và sử dụng Quỹ tích lũy trả nợ để trả nợ đúng hạn. (6) Rà soát, hoàn thiện thể chế, sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công, Chiến lược và Chương trình quản lý nợ công trung hạn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng khẳng định, Chính phủ phấn đấu giảm dần các chỉ tiêu nợ công trong giai đoạn 2016 - 2020 để đến năm 2020 nợ công khoảng 60,2% GDP, nợ Chính phủ khoảng 46,6% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 46% GDP và tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 20% (giới hạn quy định là không quá 25%). Bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.

Phương án nợ công từ nay đến 2020

Về dự tính nợ công đến năm 2020, Bộ trưởng cho biết, yêu cầu huy động vốn trong thời gian tới của Chính phủ và các địa phương là rất lớn. Cụ thể, vay của Chính phủ đảm bảo cân đối ngân sách gồm dự kiến ngân sách tiếp tục bội chi trong năm 2015 là 5% sau đó giảm dần 4% vào năm 2020.

Phát hành Trái phiếu Chính phủ theo kế hoạch, dự kiến bình quân 50 nghìn tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2017 – 2020.

Thời gian tới cân đối ngân sách cho trả nợ còn khó khăn do yêu cầu chi trả nợ tăng nhanh, cần tiếp tục thực hiện phát hành để đảo nợ một phần nợ gốc đến hạn.

Vay nước ngoài của Chính phủ chủ yếu là vay ODA, vay ưu đãi về cho các doanh nghiệp vay lại, dự kiến mức giải ngân vay vốn nước ngoài khoảng 5 - 6 tỷ USD/năm trong đó vay để cho vay lại khoảng 1,5 - 2 tỷ USD/năm.

Chính phủ tiếp tục bảo lãnh cho doanh nghiệp vay thực hiện các dự án trọng điểm với giá trị bảo lãnh bình quân 3 - 4 tỷ USD /năm. Về phát hành Trái phiếu trong nước, mức tăng dư nợ bình quân 10%/năm với nhu cầu vay Chính phủ bảo lãnh từ 60-70 nghìn tỷ /năm.

Vay của chính quyền địa phương khoảng 30 - 45 ngàn tỷ đồng/năm.

Với nhu cầu như vậy, dự báo các chỉ tiêu nợ công như sau:

Nợ công: Năm 2015 là 64% GDP, năm 2016 là 64,9% GDP, năm 2017 là 64% GDP và năm 2020 là 60,2% GDP.

Nợ Chính phủ: Năm 2015 là 48,9%, năm 2016 là 49,4% và năm 2020 46,6% GDP

Nợ Chính Phủ bảo lãnh: Năm 2015 là 14,3%, đến năm 2020 giảm dần còn 12,8% GDP

Nợ chính quyền địa phương duy trì ở mức 6,8% GDP cả giai đoạn 2014-2020

Nghĩa vụ trả nợ bố trí từ ngân sách/thu ngân sách: Năm 2015 là 16,5%, năm 2016 là 17,5% và 2020 là 19,5% GDP

Về đảo nợ: Năm 2015 là 14,4% và năm 2020 còn 12% GDP

Nợ nước ngoài: Năm 2015 là 42,6% Đến 2016 nâng lên là 46,9% 2020 là 46%