VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
 Quốc hội Mỹ trong cơ chế cân bằng quyền lực

Tòa nhà Quốc hội Mỹ. Nguồn: internet

Quốc hội Mỹ trong cơ chế cân bằng quyền lực

Chính quyền liên bang Hoa Kỳ được tổ chức và hoạt động theo cơ chế cân bằng quyền lực đa dạng. Trong đó, Quốc hội Mỹ vừa giữ sự tương tác kiềm chế, đối trọng với Tổng thống và Tòa án Tối cao, vừa thỏa hiệp, chia sẻ, hợp tác với đảng phái và nhóm áp lực. Dưới đây là những tìm hiểu, phân tích, chứng minh, đánh giá quan hệ và vị thế của Quốc hội Mỹ trong cơ chế cân bằng quyền lực đó.

Dự luật ngân sách tạm thời của Chính phủ Mỹ "vượt rào" Thượng viện

[Video] Tàu tác chiến ven biển Mỹ "lắc mình" trong lễ hạ thủy

[Video] Hiệp ước hạt nhân giúp Mỹ, Liên Xô kết thúc Chiến tranh Lạnh

Gần nửa giới tài chính Mỹ lo suy thoái xảy ra trong năm 2019

Quốc hội với Tổng thống

Các nhà khai quốc Hoa Kỳ khi xây dựng Hiến pháp 1787 đều mong muốn thiết lập được ba cơ quan nhà nước trung ương lập pháp (Quốc hội) - hành pháp (Tổng thống) - tư pháp (Tòa án Tối cao) hoàn toàn độc lập, có vai trò ngang nhau, hoạt động theo cơ chế phân quyền cứng rắn, đồng thời luôn kiềm chế và đối trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, thực tế phát triển của nền chính trị Mỹ đã đưa đến một kết quả khác. Quốc hội và Tổng thống khó có thể hoạt động nếu luôn là các thiết chế hoàn toàn độc lập, không hoặc ít có liên hệ với nhau. Chính vì vậy, cơ chế phân quyền cứng rắn đã bị “mềm hóa” thông qua việc Quốc hội và Tổng thống liên kết, thỏa hiệp, hợp tác chặt chẽ với nhau bằng những phương thức không hề được quy định trong Hiến pháp. Mặt khác, vai trò chiếm ưu thế của Quốc hội trong thế kỷ 19 như một thiết chế đại diện tiêu biểu của nền dân chủ dần nhường lại cho Tổng thống trong thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 do sự phức tạp của ngành hành pháp ngày càng gia tăng.

Dù vậy, cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa Tổng thống và Quốc hội Mỹ vẫn giữ và duy trì được hiệu quả. Theo đó, các kiềm chế của Quốc hội đối với Tổng thống thông qua sự bổ nhiệm quan chức hành pháp cao cấp và thẩm phán liên bang của Tổng thống phải được xem xét, phê chuẩn của đa số thành viên Thượng viện. Mặt khác, ngân sách và những dự chi ngân sách của Tổng thống cho các cơ quan hành pháp cần được sự chấp thuận của Quốc hội. Tất cả đề xuất hoặc dự luật Tổng thống mong muốn được thông qua cần phải được Quốc hội xem xét. Đồng thời, Quốc hội đã đưa vào luật điều khoản quy định rằng hoạt động hành pháp có thể bị xem xét lại và được phê chuẩn lại bởi cơ quan lập pháp - đây được gọi là “quyền phủ quyết lập pháp” (legislative veto). Cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa Tổng thống và Quốc hội còn được thể hiện thông qua việc Tổng thống và các quan chức hành pháp cao cấp phải giải thích và bảo vệ các quan điểm, chính sách của mình trước các ủy ban của Quốc hội. Quốc hội có thể cáo buộc Tổng thống về “những trọng tội và những hành vi phi pháp” hoặc buộc Tổng thống từ chức bởi đe dọa cáo buộc này (như từng xảy ra đối với trường hợp của Tổng thống Nixon vào tháng 8/1974). Thượng viện có quyền xem xét, phê chuẩn hoặc bác bỏ những hiệp ước ngoại giao do Tổng thống ký và Quốc hội có thể bác bỏ sự phủ quyết của Tổng thống đối với mỗi đạo luật nếu được sự ủng hộ của ít nhất 2/3 số thành viên hiện diện trong hai Viện của Quốc hội.

Ngược lại, Tổng thống cũng có các biện pháp kiềm chế đối với Quốc hội. Cụ thể, Tổng thống có quyền đề xuất với Quốc hội những biện pháp mà Tổng thống thấy “cần thiết và thích hợp”. Như vậy, Tổng thống có thể đề xuất ban hành những luật lệ, chính sách quan trọng. Tổng thống là người đứng đầu đảng cầm quyền, ảnh hưởng quan trọng tới trình lập pháp vì đa số nghị sĩ trong Quốc hội là thành viên của đảng cầm quyền hoặc đảng đối lập. Đồng thời, Tổng thống có thể phủ quyết những dự luật đã được Quốc hội thông qua nếu Tổng thống thấy không cần thiết hoặc không thích. Tổng thống có quyền “phủ quyết ngầm” (pocket veto), tức là Tổng thống có thể từ chối đưa ra sự phê chuẩn đối với việc ban hành một dự luật mà Tổng thống nhận được sau khi trì hoãn kỳ họp Quốc hội và nếu các nghị sĩ không quan tâm đến việc bãi bỏ sự phủ quyết này, thì dự luật không thể trở thành đạo luật được. Mặt khác, Tổng thống được bổ nhiệm ghế thượng nghị sĩ tạm thời bỏ trống trong thời gian giữa hai kỳ họp của Thượng viện bằng cách cấp giấy ủy nhiệm có thời hạn đến cuối kỳ họp sau của Thượng viện, như vậy có thể ít nhiều thay đổi tỷ lệ nghị sĩ trong Thượng viện theo chiều hướng có lợi cho mình và đảng cầm quyền. Tổng thống là người duy nhất thay mặt Nhà nước công bố với nhân dân những đạo luật mà Quốc hội thông qua - chỉ khi được Tổng thống ký công bố, những đạo luật đó mới được ban hành và mới bắt đầu có hiệu lực, giá trị thực thi và Tổng thống có quyền triệu tập những kỳ họp bất thường của Quốc hội để Quốc hội xem xét những vấn đề mà Tổng thống cho là cần thiết hoặc quan trọng - đó là các kỳ họp đặc biệt ngoài những kỳ họp Quốc hội thường kỳ.

Trong cơ chế cân bằng quyền lực Mỹ, mối quan hệ và vị thế giữa Quốc hội (ngành lập pháp) với Tổng thống (ngành hành pháp) ngày nay có những đặc trưng nổi bật. Thứ nhất, cán cân quyền lực thay đổi liên tục. Tầm quan trọng của mỗi bên có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như các vấn đề, các sự kiện, hay những tính cách. Hoàn cảnh ủng hộ của đảng phái cũng có thể đóng một vai trò quan trọng. Thứ hai, kết quả mối quan hệ giữa ngành lập pháp và ngành hành pháp hoàn toàn không phải là trò chơi “được ăn cả, ngã về không”. Nếu một ngành giành được quyền lực thì không nhất thiết ngành kia hoàn toàn lép vế. Sự mở rộng của chính quyền liên bang thời hiện đại đã được trao cho cả hai ngành. Thứ ba, những sự kiện cũng đóng góp một phần quan trọng trong quyền hoạch định chính sách và thế cân bằng quyền lực. Thứ tư, cán cân quyền lực thay đổi luân phiên giữa hai nhánh. Thứ năm, sự dao động điều hòa cộng với sự thay đổi nhanh chóng các khuynh hướng công luận cũng có ảnh hưởng đến những vấn đề và cách chúng được hai ngành tiến hành.

Quốc hội với Tòa án Tối cao

Dù là một thiết chế hoạt động khá độc lập, Tòa án Tối cao Mỹ lại có mối liên hệ và chịu sự ảnh hưởng, chi phối, kiềm chế đáng kể từ Quốc hội Mỹ. Cụ thể, Thượng viện được quyền xem xét, cố vấn và phê chuẩn hoặc không tất cả các vị trí thẩm phán được Tổng thống bổ nhiệm của ngành tòa án liên bang. Quốc hội có quyền quyết định quy mô của Tòa án Tối cao và số lượng các tòa liên bang cấp dưới; xem xét, phê chuẩn hoặc điều chỉnh ngân sách dành cho hoạt động của hệ thống tòa án liên bang mà đứng đầu và quan trọng nhất là Tòa án Tối cao; hỗ trợ hoặc cản trở việc thực thi những phán quyết, quyết định của Tòa án Tối cao; soạn thảo và thông qua những đạo luật ủng hộ hoặc gây bất lợi cho Tòa án Tối cao; đưa ra những phản đối, công kích cá nhân các thẩm phán tòa tối cao đương nhiệm. Đặc biệt, có thể cáo buộc hoặc kết tội thẩm phán tòa tối cao đương nhiệm và buộc người này rời khỏi cương vị của mình do có những hành vi mà Quốc hội cho là phạm pháp hoặc không đúng, không phù hợp.

Để cân bằng và đối trọng với Quốc hội, Tòa án Tối cao cũng được trang bị ba sự kiềm chế rất quan trọng và thông dụng. Thứ nhất, Tòa án Tối cao và các tòa liên bang cấp dưới có thể giải thích ý nghĩa những đạo luật của Quốc hội theo ý mình và ảnh hưởng đến việc làm thế nào để những đạo luật này được ban hành. Thứ hai, đưa ra phán quyết, quyết định hoặc thiết lập chính sách làm thu hẹp, kiểm soát, hạn chế và gây những bất lợi khác đối với thẩm quyền, hoạt động của Quốc hội. Thứ ba, phán quyết, quyết định đạo luật đã được Quốc hội thông qua là trái với Hiến pháp (vi hiến) và như vậy, đạo luật ấy sẽ không được thi hành.

Trên thực tế, thông qua xét xử vụ việc và bằng sự giải thích Hiến pháp Mỹ, Tòa án Tối cao đã nhiều lần công bố các đạo luật của Quốc hội là vi hiến. Những phán quyết, quyết định này gây ảnh hưởng bất lợi sâu sắc tới Quốc hội với nhiều phản ứng đối nghịch giữa các thành viên. Để đáp trả, Quốc hội thường vô hiệu hóa phán quyết, quyết định của Tòa bằng hai phương thức. Thứ nhất, đưa ra quy chế hoặc sửa đổi đạo luật vi hiến, trong đó né tránh những vấn đề thuộc Hiến pháp hoặc được Hiến pháp quy định, điều chỉnh trực tiếp. Thứ hai, thực hiện sửa đổi Hiến pháp về vấn đề liên quan để đảo ngược phán quyết, quyết định của Tòa.

Quốc hội với đảng phái chính trị

Mối quan hệ và sự cân bằng giữa Quốc hội với đảng phái trong nền chính trị Mỹ thường được coi là “quan hệ nội tại”, “cân bằng nội tại”. Mỗi nghị sĩ không chỉ là đại diện cho nhân dân, cho cá nhân mà còn là một đại diện đích thực cho một đảng phái. Họ được đảng mình dành cho sự trợ giúp quan trọng ngay từ lúc đề cử, ửng cử, tranh cử đến lúc trở thành nghị sĩ và thực hiện những hoạt động cơ bản của mình. Mối quan hệ và sự cân bằng quyền lực giữa Quốc hội với đảng phái chính trị thực tế đã chuyển hóa thành mối quan hệ và sự tranh giành vị thế, ảnh hưởng trong Quốc hội của đảng Dân chủ với đảng Cộng hòa.

Trong bầu cử nghị sĩ Quốc hội nói riêng cũng như các chức vụ trong chính quyền nói chung, trước hết đảng phái chính trị cung cấp ứng viên cho những cuộc bầu cử và giúp cho sự lựa chọn của cử tri. Các đảng tổ chức luân phiên những chương trình nhằm bầu ra ứng viên để giúp các cử tri không phải đối mặt với sự lựa chọn khó khăn giữa rất nhiều cá nhân mà người nào cũng đảm bảo đưa ra một chương trình tốt nhất. Nhìn chung, những đề cử của đảng tạo ra sự lựa chọn bầu cử bằng việc giới hạn các lĩnh vực mà những người của đảng chạy đua vào các chức vụ trong chính quyền. Như vậy, trong chừng mực nào đó, có thể nói, đảng phái chính trị ở Hoa Kỳ đóng vai trò như các tổ chức quản lý nhân sự, giới thiệu người của mình vào các vị trí trong chính quyền. Thông qua vận động tranh cử, các đảng này còn đóng vai trò xã hội hóa những vấn đề chính trị.

Trong bộ máy Quốc hội Mỹ, ở cả hai Viện, cơ cấu tổ chức, thủ tục thông qua điều luật đều được thực hiện trên cơ sở phân chia về mặt đảng. Bên cạnh đó, các đảng cũng tạo ra sự liên kết quan trọng giữa bộ máy hành pháp với lập pháp khi Tổng thống kêu gọi sự hợp tác của các nhà lãnh đạo đảng của họ tại Quốc hội. Trong trường hợp này, các bộ phận của đảng đã tạo nên một chiếc cầu nối liền “tam quyền phân lập” với mục tiêu chung là giành lợi thế về chính trị - chẳng hạn như giành quyền kiểm soát Nhà Trắng hoặc Quốc hội. Do đó, đảng đối lập luôn cố gắng chứng minh rằng, họ có đủ phẩm chất hơn chính quyền đương nhiệm trong việc điều hành đất nước và sẵn sàng gánh vác trách nhiệm ngay khi nào cử tri trao cho họ cơ hội. Như vậy, các đảng luôn đưa ra sự lựa chọn khác nhau và vô hình trung trở thành công cụ sắp xếp nên sự chuyển giao quyền lực vốn thường diễn ra một cách trật tự.

Trong hoạt động lập pháp, các đảng chính trị đóng vai trò quan trọng. Tổ chức và chương trình hành động của các ban trong Quốc hội chịu sự tác động không nhỏ của các đảng chính trị. Việc phân chia tỷ lệ thành viên trong các ủy ban và tiểu ban của Quốc hội tương ứng với số ghế của đảng đó trong Quốc hội đã hàm chứa tính đảng phái trong những hoạt động của ủy ban và tiểu ban. Đảng chiếm đa số trong Quốc hội được quyền chỉ định 2/3 số thành viên trong các ủy ban và tiểu ban của Quốc hội. Tỷ lệ này làm cho việc thông qua những dự luật phù hợp với chương trình hành động của đảng đang nắm đa số tại Quốc hội sẽ dễ dàng hơn. Trong những vấn đề mà hai đảng Cộng hòa và Dân chủ bất đồng, việc bỏ phiếu theo đảng phái được thể hiện rất rõ.

Quốc hội với nhóm áp lực

Mối quan hệ, tác động, ảnh hưởng và sự cân bằng quyền lực giữa Quốc hội Mỹ với nhóm áp lực (những nhóm người có cùng lợi ích nhất định, liên kết lại với nhau nhằm tác động, gây ảnh hưởng tới chính sách và hoạt động của chính quyền) tại Hoa Kỳ chủ yếu thể hiện qua hoạt động lập pháp. Ở Mỹ, quá trình xây dựng chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng khá mạnh từ hoạt động vận động hành lang, mà những người thực hiện hoạt động này là các nhóm áp lực. Do vậy, cũng có thể nói, việc xây dựng chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng đáng kể của cạnh tranh hay thỏa hiệp giữa các nhóm áp lực.

Các nhóm áp lực vận động Quốc hội để thông qua hoặc bác bỏ những dự luật ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, của cộng đồng. Các nhóm này hoạt động trên phạm vi rộng lớn, tham gia vận động hành lang vào mọi loại hình và trong tất cả các giai đoạn của hoạt động chính trị. Những đối tượng cần đến các nhóm vận động là các tổ chức chính trị, các công ty, chính quyền bang, chính quyền nước ngoài và nhiều nhóm khác…

Về lý thuyết và nguyên tắc, vận động hành lang nhằm làm cho hệ thống làm luật và thi hành luật đáp ứng lợi ích của người tiến hành vận động hành lang. Những hoạt động vận động hành lang tác động vào quá trình làm luật ở Hoa Kỳ được tiến hành theo quy trình. Thứ nhất, các nhóm vận động hành lang Quốc hội phải đăng ký vào cơ sở dữ liệu trung ương và sau đó những người vận động hành lang phải tham gia một phiên họp điều trần của các nhà lập pháp để nghe báo cáo, những chất vấn chính thức và không chính thức đối với các quan chức nhà nước được bầu hay bổ nhiệm. Thứ hai, họ gửi những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan, tìm cách quảng bá chủ đề, soạn thảo những dự luật có khả năng được đệ trình, tổ chức chiến dịch viết thư gửi các nhà lập pháp. Thứ ba, các nghị sĩ Quốc hội sau khi tiếp xúc với những người vận động hành lang có thể đệ trình các dự luật theo yêu cầu của họ.

Những năm gần đây, không chỉ có các nhóm áp lực thuê những nhà vận động hành lang để tiến hành vận động cho mình mà ngay cả Chính phủ và các công ty nước ngoài cũng tìm sự vận động theo hướng này. Những nhà vận động hành lang được coi là cầu nối giữa các nhóm áp lực với các chính trị gia, các nhà làm luật và hoạt động chính sách. Hoạt động của họ vừa có tính thuyết phục, vừa tạo điều kiện để các nhà làm luật hiểu được quan điểm của các nhóm áp lực. Người dân Mỹ và các nhóm áp lực cần những chuyên gia vận động hành lang để có thể nhận được sự chú ý nhiều hơn đối với các lợi ích và mong muốn của mình từ các cơ quan hành pháp, lập pháp; còn bản thân các nghị sĩ cũng thấy những chuyên gia vận động hành lang thực sự hỗ trợ họ rất nhiều trong việc thông qua dự luật và quyết định quan trọng. Có thể khẳng định, chính những chuyên gia vận động hành lang là người hướng các nghị sĩ đến gần hơn với những bức xúc của xã hội, người dân và những chủ thể có quyền lợi liên quan khác./.               

 

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM