VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng

Các yếu tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Các yếu tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Nghiên cứu thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) từ dữ liệu bảng dựa trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán. Kết quả cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin là: Khả năng sinh lời, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ lệ giám đốc độc lập, giám đốc điều hành, thời gian hoạt động, kiểm toán độc lập. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bất động sản.

Siết chặt quản lý với công ty chưa niêm yết

Trao đổi về kế toán tài sản dài hạn trong các doanh nghiệp Việt Nam

Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp

HNX ban hành Bộ nguyên tắc phân bảng UPCoM theo quy mô vốn

Điểm mới trong quy định niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Ahmed, K. and Nicholls, D. (1994) sử dụng nhiều mô hình hồi quy tuyến tính gồm 188 mẫu doanh nghiệp DN trong năm 2003 để đo lường mức độ công bố thông tin với các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận, quy mô DN, lợi nhuận, loại chứng khoán bảo mật… có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên BCTC. Nghiên cứu của Cerf (1961), Singhvi và Desai (1971), Belkaoui và Kahl (1978), ước lượng hồi quy cho kết quả, khả năng thanh toán, tỷ suất sinh lời, kiểm toán độc lập có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên BCTC.

Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu

Tác giả đã thu thập số liệu BCTC đã được kiểm toán trực tiếp từ website của Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh (HSX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) bằng dạng file PDF gồm 62 DN nhóm ngành Bất động sản (BĐS). Kết quả sẽ được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Sata.

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên cơ sở thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy.

Mô hình có dạng:

CBTT = β0  + β1QMDN+ β2KNSL+ β3ĐBTC + β4KNTT + β5TSTC + β6HSSDTS+β7GĐĐL + β8GĐĐH + β9TGHĐ + β10KTĐL + U

Với U là sai số ngẫu nhiên.

Kết quả nghiên cứu

Sau khi kiểm định các giả thuyết của mô hình, cho thấy các giả thuyết không bị vi phạm, tác giả tiến hành hồi quy với kết quả như sau:

Theo kết quả hồi có 6 nhân tố tác động đến việc công bố thông tin trên BCTC của các công ty BĐS gồm khả năng sinh lời của DN; Hiệu suất sử dụng tài sản của DN; Giám đốc điều hành của công ty; Thời gian hoạt động của DN; Giám đốc độc lập và kiểm toán độc lập.

Một số khuyến nghị chính sách

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, để giải quyết các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin trên BCTC, tác giả đưa ra một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, đối với HOSE và HNX:

- Cần có những quy định đối với tính độc lập của Hội đồng quản trị của các DN niêm yết.

Từ kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu, yếu tố tỷ lệ giám đốc độc lập và giám đốc điều hành cỏ ảnh hưởng thuận chiều đến mức độ công bố thông tin. Do đó, các Sở giao dịch chứng khoán và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần có những quy định cụ thể về số lượng thành viên Hội đồng quản trị và các quy định về thành viên trong hội đồng quản trị phải độc lập với ban quản lý. Đối với những DN có mô hình Hội đồng quản trị lớn thì khả năng giám sát sẽ cao hơn, vì vậy các thông tin được công bố sẽ nhiều hơn và minh bạch hơn.

- Tăng cường giám sát để tránh tình trạng che giấu công bố thông tin của các DN niêm yết.

Hai cơ quan quản lý trực tiếp thị trường chứng khoán đó là 2 Sở giao dịch chứng khoán và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Sự quản lý của sở giao dịch tác động rất lớn đến chất lượng cổ phiếu của các DN niêm yết. Một vấn đề hiện nay đặt ra là sự chậm trễ cũng như che giấu thông tin của các doanh nghiệp (DN) niêm yết ảnh hưởng lớn đến quyết định và niềm tin của nhà đầu tư đối với cổ phiếu được niêm yết. Cần có những chế tài nghiêm khắc để giám sát và xử lý các công bố thông tin sai lệch là một trong những yêu cầu quan trọng hoàn thiện hệ thống giám sát thị trường chứng khoán góp phần quan trọng tăng cường khả năng quản lý, giám sát của cơ quan quản lý.

- Xử lý nghiêm ngặt đối với những trường hợp vi phạm về công bố thông tin.

Thông tư 152/2012/TT-BTC đã quy định, hướng dẫn về việc công bố thông tin của các - DN niêm yết hiện nay và Nghị định 85/2010/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán. Đối với các công ty vi phạm về mức độ công bố thông tin thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước yêu cầu các Sở giao dịch chứng khoán tiến hành rà soát, nhắc nhở đến các DN vi phạm. Đối với các DN vẫn cố tình chây ỳ không chịu tuân thủ về quy định công bố thông tin thì cần phải có những chế tài mạnh tay hơn, vừa mang tính cảnh cáo, vừa mang tính răn đe, nhằm nâng cao ý thức DN trong việc công bố thông tin.

- Quá trình tiếp nhận xử lý các thông tin của DN niêm yết cung cấp cần được hoàn thiện hơn.

Thông tin được công bố một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ đến đối tượng quan tâm đến thông tin thì Sở Giao dịch chứng khoán cần tiếp tục cải thiện quy trình tiếp nhận, xử lý và công bố thông tin. Một giải pháp được xem là hữu hiệu đó là xây dựng hệ thống công bố thông tin điện tử vừa đảm bảo bảo mật, rút ngắn thời gian, tính pháp lý nhằm cung cấp thông tin đến nhà đầu tư sớm nhất.

- Xây dựng hệ thống giám sát thông tin, phát triển hình thức và nội dung công bố thông tin.

Nên thành lập một tổ chức tín nhiệm để cung cấp cho thị trường và các nhà đầu tư một hệ thống xếp hạn các công cụ tài chính trên thị trường. Từ đó, sẽ giúp có thêm nguồn cung cấp thông tin làm cơ sở so sánh, đối chiếu trước khi thực hiện quyết định đầu tư ngoài ra tổ chức này cũng sẽ hỗ trợ tích cực nghiệp vụ cho các công ty chứng toán.

 

Chất lượng các thông tin công bố trên thị trường chứng khoán hiện nay chưa có cơ quan nào giám sát và đảm bảo chất lượng, vì vậy các thông tin trên thị trường có những thông tin không chính xác. Các nhà đầu tư rất dễ giao động trước những tin đồn thất thiệt bởi vì đa số những nhà đầu tư ở Việt Nam không chuyên nghiệp vì vậy rất dễ ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường chứng khoán. Vì những lý do trên mà cần phải có cơ cấu giám sát thông tin chặt chẽ hơn nữa để tạo niềm tin đối với nhà đầu tư và để thị trường chứng khoán hoạt động một cách có hiệu quả.

- Bổ sung bảng báo cáo vốn cổ phần của các cổ đông.

Hiện nay, theo quy định của Việt Nam có 4 bảng báo cáo cần phải công bố đó là bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Bảng báo cáo về vốn cổ phần chưa được thực hiện mà hiện nay các DN thường cho ra bảng báo cáo thay đổi vốn cổ phần. Báo cáo cổ phần rất quan trọng với cổ đông vì họ có thể nắm bắt được tình hình tăng giảm, lên xuống do phát hành, do gia tăng lợi nhuận giữ lại hay do việc mua lại cổ phiếu. Sự thiếu sót của báo cáo này sẽ thiệt hại cho cổ đông. Vì vậy, cần có một văn bản yêu cầu thực hiện báo cáo vốn cổ phần.

 

Thứ hai, đối với doanh nghiệp niêm yết:

- Cần gia tăng công bố các thông tin tự nguyện

Hiện nay, tất cả các DN trên thị trường chứng khoán hầu như chỉ công bố những thông tin bắt buộc, mà với những thông tin bắt buộc cũng không công bố đầy đủ, kịp thời, vì thế, việc xem nhẹ công bố những thông tin tự nguyện là điều hiển nhiên.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Yinh Chu 2012, thì việc công bố những thông tin tự nguyện góp phần rất quan trọng trong việc cải thiện chất lượng công bố thông tin, thể hiện giá trị tương lai và giá trị thật sự của các DN. Những ưu điểm của việc công bố thông tin tự nguyện đó là: Thu hút các nhà đầu tư, truyền tải những thông tin nhạy cảm để giải thích cho những khoản đầu tư lớn; Nâng cao uy tín của DN...

- Cần có sự độc lập giữa Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành của DN.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tính độc lập của hội đồng quản trị càng cao thì mức độ công bố thông tin càng nhiều. Nhiệm vụ của hội đồng quản trị là thay mặt các cổ đông giám sát hoạt động của giám đốc điều hành để phát hiện ra những sai sót, gian lận để kịp thời ngăn chặn những hành vi đi ngược lại với lợi ích của cổ đông.

Vì những lý do nêu trên mà cần có sự độc lập giữa hội đồng quản trị và giám đốc điều hành nhằm cải thiện tính minh bạch của các thông tin được công bố, tăng cường thông tin được công bố. Các DN cần thay đổi quan điểm của mình rằng chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành để tạo sự độc lập nhằm đem lại lợi ích cho DN.

- Chú trọng công tác kiểm toán độc lập.

Kiểm toán độc lập cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ công bố thông tin. Khi báo cáo tài chính được kiểm toán bởi các DN lớn, có uy tín, chuyên nghiệp thì những ý kiến của họ đưa ra sẽ nâng cao tính minh bạch của DN, tăng giá tri DN và tạo sự an tâm, niềm tin cho nhà đầu tư và các đối tượng sử dụng thông tin...        

Tài liệu tham khảo:

1. Ahmed, K. and Nicholls, D. (1994), “The Impact of Non-financial Company Characteristics On Mandatory Disclosure Compliance in Developing Countries: The Case of Bangladesh”, The International Journal of Accounting, Vol.29:62-77;

2. Belkaoui, A.& Kahl, A. (1978), “Corporate Financial Disclosure in Canada”, CCGAA Research Monograph;

3. Ceft AR (1961) “Corporate Reporting and Investment Decisions”. Berkely: The University of California Press;

4. Cooke, T.E., (1993), “Disclosure in Japanese Corporate Annual Reports”, Journal of Business Finance and Accounting,  20 ( 4), 521-535;

5. Singhvi, S. S. and Desai, H.B., (1971), “An Empirical Analysis of the Quality of Corporate Financial Disclosure”,The Accounting Review, 46, 12.

Có thể bạn quan tâm