Sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2015

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tám ước tính tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 2,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,1%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 9,4%. Tính chung 8 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 8%, đóng góp 2,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4%, đóng góp 7 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,4%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 40,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 30,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,6%; dệt tăng 19,2%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,1%; khai khoáng khác tăng 12,1%; sản xuất kim loại tăng 10,9%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 10,5%. Một số ngành có mức tăng thấp: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 8,4%; khai thác dầu khô và khí đốt tự nhiên tăng 8,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,6%; khai thác than cứng và than non tăng 5,8%; sản xuất đồ uống tăng 5,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 5,6%; sản xuất trang phục tăng 4,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,3%; sản xuất thuốc lá tăng 2,8%.

Trong 8 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 59,2%; điện thoại di động tăng 58,1%; ti vi tăng 39,4%; giày, dép da tăng 24,7%; thép cán tăng 19,7%; sữa tươi tăng 15,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 15,5%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện sản xuất tăng 11,9%; sữa bột tăng 11%; sơn hóa học tăng 10,7%; xi măng tăng 10,3%; dầu thô tăng 10,3%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Khí hóa lỏng tăng 8%; nước máy thương phẩm tăng 6,1%; than đá tăng 5,8%; bia tăng 5,7%; thủy sản chế biến tăng 4,9%; quần áo mặc thường tăng 4,1%; thuốc lá điếu tăng 2,8%; sắt thép thô giảm 0,3%; xe máy giảm 11,1%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tăng 193,6%; Quảng Nam tăng 34,8%; Hải Phòng tăng 14,8%; Đà Nẵng tăng 13,2%; Hải Dương tăng 10%; Bình Dương tăng 8,6%; Đồng Nai tăng 8%; Hà Nội tăng 7,4%; Cần Thơ tăng 7,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,8%; Quảng Ninh tăng 6,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 4,7%; Vĩnh Phúc tăng 4,1%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2015 tăng 2,6% so với tháng trước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 38,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 29,9%; sản xuất kim loại tăng 23%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 10,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 9,9%; dệt tăng 8,5%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,9%; sản xuất đồ uống tăng 6,1%; sản xuất trang phục tăng 5,5%; sản xuất thuốc lá giảm 1,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/8/2015 tăng 10,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,2%; sản xuất trang phục tăng 3,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: Sản xuất thiết bị điện giảm 2,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 9,9%; thuốc lá giảm 10,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 61,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 56,9%; sản xuất đồ uống tăng 42,4%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 23,2%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 7 tháng năm 2015 là 74,6%, trong đó, một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 146,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 115,7%; sản xuất chế biến thực phẩm 101,1%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2015 tăng 6,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 10,1%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,9% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 7,1%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 0,1%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 5%.

Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/8/2015 so với cùng thời điểm năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 43,3%; Vĩnh Phúc tăng 18%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 15,1%; Quảng Nam tăng 12,9%; Hải Dương tăng 11,3%; Đồng Nai tăng 7,5%; Bình Dương tăng 7%; Đà Nẵng tăng 3,5%; Quảng Ninh tăng 3,2%; Cần Thơ tăng 0,5%; Hà Nội tăng 0,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1%.

Theo gso.gov.vn

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục