VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng

Đổi mới cơ chế tự chủ giáo dục đại học công lập  giai đoạn 2015-2017: Kết quả và kiến nghị chính sách

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Đổi mới cơ chế tự chủ giáo dục đại học công lập giai đoạn 2015-2017: Kết quả và kiến nghị chính sách

Kể từ khi Nghị quyết 77/NQ-CP (ngày 24/10/2014) của Chính phủ có hiệu lực đến nay, mô hình thí điểm cơ chế tự chủ tại các cơ sở giáo dục đại học bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện cơ chế tự chủ giáo dục đại học hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Những bất cập này phần nào làm hạn chế hiệu quả của việc thực hiện tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học; tự chủ chưa thực sự trở thành động lực giúp các cơ sở giáo dục đại học phát huy khả năng chủ động, sáng tạo, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường cạnh tranh và đa dạng hoá các loại hình giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của đất nước.

6 rủi ro trong đầu tư giáo dục tại Việt Nam

[Infographic] Việt Nam có bao nhiêu giảng viên trình độ tiến sĩ?

Đầu tư giáo dục: Cuộc đua ngàn tỷ

Hiểu đúng tiền đề “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”

Ngày 24/10/2014, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động giai đoạn 2015-2017 (tại Nghị quyết 77/NQ-CP) cho 23 cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) công lập trực thuộc các bộ, ngành trung ương, trong đó 12 trường có thời gian tự chủ trên 2 năm, 3 trường có thời gian tự chủ từ 1-2 năm, 5 trường có thời gian tự chủ dưới 1 năm và 4 trường mới được giao quyết định tự chủ từ tháng 7/2017.
Nhằm đánh giá tác động của Nghị quyết 77/NQ-CP và hiệu quả triển khai thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động tại 23 cơ sở GDĐH, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã tập trung đánh giá đối với nhóm 12 trường có thời gian tự chủ từ 2 năm trở lên. Phạm vi đánh giá tập trung vào một số trọng tâm sau:
(i) Tự chủ về học thuật (được thể hiện trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học);
(ii) Tự chủ trong tổ chức bộ máy và nhân sự;
(iii) Tự chủ về tài chính (trong đó nhấn mạnh vấn đề thu chi, chính sách học bổng và học phí đối với đối tượng chính sách hoạt động đầu tư, mua sắm).

Phương pháp và quy trình nghiên cứu đã được thực hiện dựa trên các nguồn số liệu:

(i) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục liên quan tới GDĐH và thực hiện tự chủ đại học;

(ii) Báo cáo đánh tình hình thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở GDĐH và cơ sở dữ liệu tự kê khai vào hệ thống phần mềm thống kê của Bộ GD&ĐT;

(iii) Kết quả khảo sát thực tế tại các cơ sở GDĐH, thực hiện thí điểm tự chủ theo NQ77/NQ-CP;

(iv) Các báo cáo chuyên đề của một số trường đại học công lập, các tổ chức nghiên cứu, các số liệu thứ cấp về hiện trạng tự chủ GDĐH tại Việt Nam;

(v) Các góp ý của các chuyên gia trong và ngoài nước, lãnh đạo các trường đại học và lãnh đạo cục, vụ thuộc Bộ GD&ĐT;

(vi) Báo cáo đánh giá tác động của việc thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết 77/NQ-CP… Kết quả nghiên cứu cho thấy, bức tranh tổng quát về hiệu quả triển khai thí điểm mới cơ chế hoạt động của các cơ sở GDĐH.

Tình hình triển khai thí điểm tự chủ giáo dục đại học

Trước xu thế đổi mới, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách phát triển GDĐH theo hướng nâng cao chất lượng, trao quyền tự chủ, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.

Từ chỗ toàn bộ hệ thống GDĐH Việt Nam được xem như một trường đại học lớn, chịu sự quản lý của Nhà nước về mọi mặt, các trường đại học đã dần được trao quyền tự chủ, thể hiện qua các văn bản pháp luật và chính sách như: Luật Giáo dục được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 14/6/2005 (Luật số 38/2005/QH11) ghi nhận cụ thể về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GDĐH Việt Nam.

Cùng thời điểm đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Trong đó, khẳng định tầm quan trọng của việc hoàn thiện chính sách phát triển GDĐH theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở GDĐH, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với GDĐH.

Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung ban hành ngày 18/6/2012 đã tái khẳng định quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH tại Việt Nam. Đặc biệt, nhằm cụ thể hoá các nội dung về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học trong khung khổ pháp lý được quy định các bộ luật hiện hành, đồng thời để thúc đẩy hoạt động tự chủ đại học tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017.

Nghị quyết 77/NQ-CP đã quy định rất rõ quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH như: (i) Tự chủ về đào tạo và nghiên cứu khoa học (một số học giả còn gọi là tự chủ về học thuật); (ii) Tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự; (iii) Tự chủ về tài chính.

Nói chung, tư tưởng nhất quán được thể hiện ở Nghị quyết 77/NQ-CP là đã tạo cơ chế mở cho các trường đại học công lập khỏi các quy định cứng nhắc, tập trung, hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước, đảm bảo cho trường hoạt động theo cơ chế thị trường có sự can thiệp nhất định của Nhà nước.

Mặc dù, Chính phủ và Bộ GD&ĐT đã cố gắng tạo ra hành lang pháp lý cho việc thực thi quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH nhưng thực tế cho thấy, quyền tự chủ vẫn chưa thật sự phát huy được hết tác dụng, vì tính chất thí điểm cũng như sự thiếu nhất quán, đồng bộ trong các chủ trương chính sách của Nhà nước… Kết quả thí điểm cho thấy phần nào những tồn tại trên:

Thứ nhất, về tự chủ về đào tạo và nghiên cứu khoa học: Số liệu thống kê và báo cáo của các trường cho thấy bức tranh tươi sáng về mở ngành và chương trình đào tạo kể từ khi tự chủ. Số ngành/chương trình đào tạo mới (bao gồm cả mở các ngành, chương trình đào tạo tiên tiến, chất lượng cao và chương trình liên kết quốc tế) được mở ở nhiều bậc học, tùy thuộc vào năng lực và định hướng phát triển của mỗi trường. Các trường mở nhiều ngành mới đa phần là các trường có thời gian tự chủ trên 1 năm.

Điển hình như: Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh là trường mở nhiều ngành/chương trình liên kết đào tạo sau tự chủ nhất với 39 ngành (bao gồm cả các chương trình tiên tiến, chất lượng cao); Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh đã bổ sung thêm 25 chương trình/ngành đào tạo chỉ trong 2 năm; Đại học Công nghiệp thực phẩm TP. Hồ Chí Minh thêm 16 chương trình/ngành đào tạo; Đại học Tôn Đức Thắng mở được 13 và Đại học Ngoại thương mở thêm 11 ngành/chương trình đào tạo trong đó có 5 chương trình hợp tác quốc tế... Việc mở mới các ngành ở các trường được xem là cách thức nhà trường đáp ứng nhu cầu xã hội trong quá trình đào tạo.

Quy mô tuyển sinh của các trường có xu hướng giảm xuống sau khi tự chủ. Có tới 5/11 trường tự chủ giảm quy mô sinh viên so với giai đoạn trước tự chủ, trong đó giảm nhiều nhất là Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Tài chính Marketing và Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu là do:

(i) Thay đổi nhu cầu lao động xã hội và thay đổi nhận thức của người dân;

(ii) Số lượng các trường đại học tăng lên, việc “đỗ đại học” không còn quá danh giá và việc sở hữu một tấm bằng đại học cũng không thể thay thế cho kiến thức và kinh nghiệm làm việc;

(iii) Học phí của các trường tự chủ có sự khác biệt và thường cao hơn so với mặt bằng chung khiến người học cân nhắc nhiều hơn khi chọn trường;

(iv) Quy mô sinh viên chính quy của các trường đại học bị giới hạn ở 15.000 sinh viên theo quy định lại Thông tư 32/2015/TT-BGDĐT.

Trong bối cảnh quy mô tuyển sinh giảm, nhiều trường tự chủ đã nhanh chóng thích ứng, thay đổi một số định hướng đào tạo ở các hệ khác nhau. Một số trường tự chủ đã có định hướng phát triển nghiên cứu khoa học rõ ràng, các nghiên cứu có tính ứng dụng cao và kinh phí phân bổ cho hoạt động này lớn. Một số trường xem phát triển khoa học – công nghệ là mũi nhọn để tạo ra nguồn thu cho hoạt động của trường.

Nhờ đó, số đề tài khoa học công nghệ được phê duyệt từ 2013-2016 nhìn chung đã tăng lên. Tổng số đề tài trung bình hàng năm trên 500 đề tài, trong đó chủ yếu là đề tài cấp trường và cấp bộ/tỉnh. Việc gia tăng số lượng đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường thể hiện sự định hướng rõ ràng về nghiên cứu khoa học cũng như tính chủ động của nhà trường trong việc phân bổ và sử dụng ngân sách của trường cho nghiên cứu khoa học.

Giai đoạn 2013-2016, số lượng các hội thảo được các trường tổ chức cũng tăng mạnh, từ khoảng hơn 40 hội thảo năm 2013 đã lên đến 120 hội thảo vào năm 2016. Điều đáng nói là số lượng hội thảo quốc tế nhiều hơn so với số hội thảo quốc gia.

Thứ hai, về tổ chức nhân sự: Tự chủ về tổ chức bộ máy và nhân sự được xem là khâu then chốt trong quá trình tự chủ của các trường đại học. Theo tinh thần Nghị quyết 77/NQ-CP, tự chủ về bộ máy, nhân sự thể hiện trên 3 giác độ: (i) Quyết định thành lập mới, sáp nhập, chia, tách, giải thể; quy định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động của các tổ chức trực thuộc; (ii) Quyết định cơ cấu và số lượng người làm việc; tuyển dụng viên chức, nhân viên hợp đồng sau khi được Hội đồng trường thông qua; ký kết hợp đồng làm việc và hợp đồng lao động, quản lý, sử dụng và chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật; (iii) Giao kết hợp đồng lao động với giảng viên, nhà khoa học là người nước ngoài để bảo đảm nhu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Kết quả phỏng vấn 69 lãnh đạo cấp cao tại 12 trường tự chủ trên 24 tháng cho thấy, 40 người (tương ứng với 30,8%) cho rằng tự chủ về tổ chức bộ máy và nhân sự là quan trọng nhất; trong đó, có tới 39,2% cho rằng tự chủ về tài chính là quan trọng nhất và 29,2% cho rằng, tự chủ về đào tạo và nghiên cứu khoa học là quan trọng nhất.

Có thể khẳng định, tự chủ về tổ chức bộ máy là cơ sở để nhà trường tái cấu trúc lại bộ máy, nâng cao chất lượng nhân sự trong mối tương quan với mục tiêu chiến lược; đồng thời, giúp nhà trường thích ứng tốt hơn với những thay đổi của môi trường và tạo nền tảng phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.

Xu hướng biến động về tổ chức hoàn toàn phù hợp với kết quả khảo sát tại 12 đại học đã tự chủ trên 24 tháng. Theo đó, tự chủ về bộ máy nhân sự và tổ chức được đánh giá ở mức khá với 3,69/5 điểm. Đây là nội dung được đánh giá thấp nhất trong số các khía cạnh tự chủ.

Từ thời điểm được giao thí điểm tự chủ, các trường đã có sự điều chỉnh cơ cấu nhân lực giữa giảng viên và chuyên viên, theo hướng gia tăng lực lượng lao động trực tiếp (giảng viên), giảm đội ngũ lao động gián tiếp (chuyên viên và nhân viên), trong đó chú trọng sử dụng công nghệ thông tin hoặc thuê ngoài nhằm tăng hiệu quả hoạt động của bộ máy. Tính đến tháng 7/2017, số lượng giảng viên chiếm 64,52% tổng số lực lượng lao động của các trường, lao động gián tiếp chiếm 25,48%.

Theo báo cáo của các trường, số lượng cán bộ/giảng viên có học hàm giáo sư, phó giáo sư và học vị từ thạc sĩ trở lên tại các trường đã tự chủ tăng lên đáng kể, số lượng cử nhân giảm xuống so với giai đoạn trước tự chủ. Tỷ lệ giảng viên có học hàm giáo sư và phó giáo sư chiếm 9,2% tổng số giảng viên của các trường đại học đã tự chủ trên 24 tháng. Con số này là khoảng 6% trong toàn bộ hệ thống GDĐH.

Ở thời điểm hiện tại, trường có nhiều giáo sư nhất là Đại học Tôn Đức Thắng (33 giáo sư), Đại học Kinh tế quốc dân là trường có nhiều phó giáo sư nhất (133 người) và Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh có nhiều giảng viên chính nhất (107 người). Về học vị, hơn 72% cán bộ/giảng viên có trình độ là thạc sĩ trở lên. Đây là cơ sở quan trọng để các trường đại học tự chủ tăng chỉ tiêu tuyển sinh ở tất cả các bậc đào tạo, nhất là bậc nghiên cứu sinh và cao học.

Có thể nói, cơ chế tự chủ cho phép các trường đẩy mạnh công tác tuyển dụng và nhân sự theo hướng nâng cao chất lượng. Một số trường chủ động xây dựng đề án vị trí việc làm, chủ động trong tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc với những giảng viên có trình độ cao.

Điển hình như: Đại học Tôn Đức Thắng đã ban hành Đề án vị trí việc làm giai đoạn 2016-2019 để làm cơ sở tuyển dụng, trong đó đã tuyển dụng được 126 giảng viên, nghiên cứu viên, viên chức cơ hữu; 22 chuyên gia là các nhà khoa học, phó giáo sư và giáo sư trong và ngoài nước. Hoạt động tuyển dụng nhân sự nước ngoài của Đại học Tôn Đức Thắng cũng được thực hiện thường xuyên với nhiều chính sách tốt đã thu hút được 200 nhà khoa học nước ngoài.

Thứ ba, về tài chính: Số liệu báo cáo của 10 trường tự chủ trên 24 tháng cho thấy, các trường đã đảm bảo được toàn bộ chi hoạt động thường xuyên, thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người học, miễn giảm học phí cho các đối tượng chính sách, trích lập quỹ học bổng khuyến khích theo quy định và đều có chênh lệch thu lớn chi. Các trường đã trích lập quỹ đầu tư phát triển sự nghiệp, quỹ khen thưởng, phúc lợi, ổn định thu nhập.

Thu nhập của người lao động đã tăng lên rõ rệt so với thu nhập bình quân giai đoạn trước. Tổng thu giai đoạn thí điểm tự chủ năm 2015-2016 là 8.262 tỷ đồng so với giai đoạn trước khi tự chủ năm 2013-2014 là 6.890 tỷ đồng tăng 19,9%, trong đó: (i) Thu từ ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên, không thường xuyên và vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng 29,8%; (ii) Thu hoạt động sự nghiệp từ thu học phí, lệ phí, thu sự nghiệp khác tăng 23,5%; (iii) Thu hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ giảm 0,2%.

Cơ cấu các khoản thu của các trường đại học công lập tự chủ chưa có sự thay đổi rõ rệt trước và sau tự chủ. Thu từ học phí và lệ phí tăng 3% so với thời điểm trước tự chủ và vẫn là nguồn thu chính của các trường đại học, chiếm trên 70% trong tổng thu của các trường.

Cơ chế thí điểm tự chủ đã tạo điều kiện cho các trường chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch tài chính và dự toán ngân sách ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Kết quả khảo sát cho thấy, tổng chi của các trường tự chủ trên 24 tháng tăng thêm 13,7%, tương đương với 713 tỷ đồng trong năm 2015-2016 so với năm 2013-2014 trước tự chủ. Cơ cấu chi có sự thay đổi: chi từ dịch vụ giảm rõ rệt từ 17,8% xuống 15,6% trong tổng cơ cấu chi; tỷ lệ chi sự nghiệp và ngân sách nhà nước tăng lên, trong đó, tỷ lệ chi sự nghiệp tăng nhiều hơn.

Với tỷ lệ tăng thu chênh lệch 6% so với tỷ lệ tăng chi, các trường tự chủ đã có nguồn tài chính cho việc trích lập quỹ đầu tư phát triển sự nghiệp, quỹ khen thưởng cũng như thực hiện các trách nhiệm xã hội khác của nhà trường. Các mục chi tăng mạnh của các trường tập trung vào đầu tư, mua sắm trang thiết bị (84,4%), chính sách học bổng cho sinh viên (39,5%), tài trợ, viện trợ (35,5%) và hoạt động tư vấn và nghiên cứu khoa học (33,7%).

 Cơ cấu nguồn quỹ trích lập trong các trường tự chủ trên 24 tháng cũng có sự phân hóa mạnh mẽ. Cùng với việc tăng học phí theo cơ chế tự chủ tài chính và tiếp tục thu hút giảng viên và sinh viên, các trường cũng tăng quỹ trích lập lên 45,5% kể từ sau tự chủ.

Trong khi đó, quỹ khen thưởng và quỹ phát triển sự nghiệp tăng lên, quỹ phúc lợi và quỹ ổn định thu nhập đều có xu hướng giảm xuống, tỷ lệ giảm tương ứng là -17% và -14%. Một số trường giảm nhiều nhất như Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh giảm 25,5 tỷ đồng và Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh giảm 21,8 tỷ đồng trong quỹ ổn định thu nhập kể từ sau tự chủ.

Nhờ có cơ chế học phí mới, các trường cũng có cơ hội và thuận lợi hơn trong thực hiện chính sách học bổng, học phí (gia tăng học bổng, số xuất và số người được học bổng) đối với đối tượng chính sách. Cụ thể, nguồn quỹ hỗ trợ sinh viên tăng hơn 10 lần, từ 18 tỷ đồng trước tự chủ lên 186 tỷ đồng năm 2015-2016 trong đó chủ yếu đến từ khoản lãi gửi ngân hàng (133 tỷ).

Một số trường tiêu biểu như Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh đã bù toàn bộ chênh lệch học phí đối với đối tượng chính sách và sinh viên nghèo, đồng thời năm học 2015-2016 đã cấp 2.020 suất học bổng cho sinh viên, trong đó khóa mới tuyển là 520 suất, nhà trường đã trích lập Quỹ học bổng cho sinh viên trong năm học 2015-2016 khoảng 12 tỷ đồng; Đại học Tài chính – Marketing, trong năm học 2015-2016 cũng đã trích lập quỹ hỗ trợ sinh viên 3 tỷ đồng và Quỹ học bổng khuyến khích học tập là 9 tỷ đồng…

Đề xuất, kiến nghị

Thí điểm tự chủ mặc dù đã có nhiều quy định tạo cơ chế mở cho các trường, tuy nhiên, các quy định này theo nhận định của các đơn vị thực hiện thí điểm đều không thể vượt qua khỏi Luật, đặc biệt là Luật GDĐH, Luật Đầu tư Công, Luật Khoa học Công nghệ… nên thực tế, cơ sở pháp lý về tự chủ đại học chưa vững chắc và thiếu đồng bộ.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn có những quy định chưa phù hợp đối với quá trình vận hành của các trường được giao tự chủ; một số văn bản quy định còn thiếu tính cụ thể, rõ ràng dẫn đến khó khăn khi triển khai như: Thiếu quy định cụ thể về tự chủ và quyền của các trường đại học trong việc xác định quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường; Nhiều quy định, văn bản pháp lý hiện nay chưa thay đổi kịp để hỗ trợ các trường đại học tự chủ; Các quy định về hướng dẫn tự chủ còn thiếu, dẫn đến sự lúng túng của các trường đại học thí điểm tự chủ.

Hơn nữa, việc giao quyền tự chủ đối với GDĐH mới chỉ thực hiện trong phạm vi thí điểm, chưa trở thành yêu cầu cấp thiết với các trường; Điều kiện tự chủ mới chỉ tiếp cận chủ yếu từ góc độ về tài chính; Chưa tính đến năng lực chuyên môn và năng lực tổ chức quản lý của các cơ sở đào tạo; Tự chủ đại học chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học trong cơ sở GDĐH, điều này khiến cho việc sử dụng nguồn lực kém hiệu quả và chất lượng đào tạo chưa được nâng cao.

Vì vậy, để góp phần hạn chế những tồn tại trên, thúc đẩy hơn nữa việc triển khai cơ chế tự chủ tới tất cả các cơ sở GDĐH trong thời gian tới, cần quan tâm đến một số đề xuất, kiến nghị sau:

Thứ nhất, đề xuất Quốc hội sửa đổi Luật GDĐH và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật GDĐH ngay sau khi được sửa đổi. Nhanh chóng ban hành Nghị định về tự chủ đại học thay thế cho Nghị quyết 77/NQ-CP, chính thức hóa tự chủ đại học là con đường tất yếu của GDĐH Việt Nam. Đối với các trường chưa tự chủ, phải thực hiện tự chủ kể từ năm 2020, đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý để phân loại và tiến tới giảm số lượng các trường đại học không thể tự chủ từ thời điểm này.

Bộ GD&ĐT cần rà soát các văn bản quy định hoạt động của các cơ sở GDĐH, từ đó xác định các thông tư, văn bản chưa thực sự phù hợp với điều kiện tự chủ mới để cùng với các bộ, ngành điều chỉnh nhằm đảm bảo sự thống nhất trong chính sách.

Đặc biệt, quy định cụ thể về trách nhiệm vai trò hội đồng trường cũng như khẳng định vai trò của hội đồng trường trong quản trị trường đại học trong xu hướng tự chủ hóa và hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, tập trung hoàn thiện bộ tiêu chí kiểm định và tập huấn cho các trường về bộ tiêu chí này để đảm bảo các trường sẽ triển khai áp dụng thành công tại đơn vị, là cơ sở để đánh giá, phân loại các trường đại học, tạo áp lực để các trường nâng cao hiệu quả công tác của nhà trường…

Đồng thời, hướng dẫn cụ thể và tăng cường giám sát trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDĐH tự chủ trong việc xây dựng các hệ thống chỉ tiêu bắt buộc và chỉ tiêu khuyến khích mà các cơ sở GDĐH cần phải công bố, công khai…

Thứ hai, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về tự kiểm tra tài chính, kế toán cho phù hợp với các đơn vị sự nghiệp tự chủ cả chi thường xuyên và chi đầu tư; quy định về tự kiểm tra tài chính, kế toán cho phù hợp với các đơn vị sự nghiệp tự chủ cả chi thường xuyên và chi đầu tư; Hướng dẫn kịp thời về miễn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản thu học phí, lệ phí sau khi các khoản thu này chuyển qua thực hiện theo cơ chế giá theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 và được hưởng ưu đãi thuế và các chính sách ưu đãi như các đơn vị xã hội hóa theo Nghị định 69/2008/NĐ-CP.

Thứ ba, xem xét bãi bỏ ngạch công chức (viên chức) ở các trường đại học tự chủ; đề xuất trao quyền cho các trường tự chủ trong việc tổ chức thi nâng ngạch bậc cho giảng viên; giảng viên chính; giảng viên cao cấp.

Đồng thời, cân nhắc việc cho phép các trường tự chủ được lựa chọn việc áp dụng Luật Lao động thay vì Luật Viên chức đối với các trường tự chủ. Cho phép các trường được tự chủ xây dựng quy chế tuyển dụng, trả thù lao, đào tạo, phát triển và sử dụng đội ngũ chuyên gia, đặc biệt việc thu hút, tuyển dụng và thù lao các chuyên gia nước ngoài…

Thứ tư, đối với các trường: Cần hoàn thiện cơ cấu tổ chức, sớm thành lập hội đồng trường, quy chế hoạt động của hội đồng trường, nâng cao hiệu quả công tác quản trị đại học tiếp cận dần tới chuẩn mực quốc tế.

Bên cạnh đó, rà soát, bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển trường giai đoạn 2017 - 2022 và tầm nhìn tới 2030; Xây dựng cơ chế kiểm soát các hoạt động độc lập, tự chủ, thực hiện trách nhiệm của các đơn vị trong nhà trường, đặt ra những tiêu chuẩn, tiêu chí chặt chẽ để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, thực hiện sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đối tượng trên các lĩnh vực như tài chính, cơ sở vật chất, thực hiện nguyên tắc và chế độ trong quản lý, trong công việc, trong đào tạo… Đặc biệt, thực hiện nghiêm túc các cam kết trong đề án tự chủ và trách nhiệm giải trình; tăng cường công bố thông tin về quá trình và kết quả hoạt động của nhà trường.            

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Báo cáo kết quả đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2015-2017;

2. Nghị quyết 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập;

3. Luật Giáo dục được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 14/6/2005 (Luật số 38/2005/QH11);

4. Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020;

5. Các website: moet.gov.vn, mof.gov.vn, moit.orgn.vn, chinhphu.vn, tapchitaichinh.vn.

Có thể bạn quan tâm