VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Vì sao cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước còn

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Vì sao cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước còn "khó"?

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN là một trong ba trụ cột của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế đã được khẳng định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020. Để đạt được mục tiêu đó, cần phải tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện hữu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp để đẩy nhanh công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DNNN.

Phải có sự phối hợp đồng bộ trong cổ phần hóa, thoái vốn DNNN

Cổ phần hóa, thoái vốn: Cần sự quyết liệt của người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa, thoái vốn về sẽ đích ở chặng cuối?

Tiến độ thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp mới đạt 1/3 kế hoạch

Tiếp tục triển khai cổ phần hóa, thoái vốn DNNN theo chỉ đạo của Chính phủ

Tập trung xử lý, giải quyết tồn tại, hạn chế

Sau Hội nghị đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty, DNNN đã nghiêm túc, khẩn trương thúc đẩy quá trình cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN và DN có vốn nhà nước; Đồng thời, tiếp tục ban hành các cơ chế chính sách, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật về cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN, đảm bảo chặt chẽ, công khai minh bạch, tối đa hóa lợi ích của Nhà nước, tháo gỡ khó khăn vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn...

Qua đó, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN ngày càng tăng, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, cùng với thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, các tập đoàn, tổng công ty thực hiện phương án cơ cấu lại doanh nghiệp theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt…

Tuy nhiên, thực hiện, triển khai vẫn phát sinh nhiều tồn tại, hạn chế, khó khăn thách thức, cần tập trung xử lý giải quyết sớm. Theo một số chuyên gia, đáng  lưu ý, về chính sách, vẫn còn có sự chồng chéo giữa nhiều văn bản, và mới chỉ dừng ở các quy định khung, mang tính nguyên tắc.

Ví dụ như, khái niệm DNNN theo quy định tại Luật DN năm 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN chưa phù hợp với chủ trương của Đảng theo Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, do đó, cần rà soát, điều chỉnh cho phù hợp.

Về thuật ngữ “Vốn nhà nước đầu tư vào DN” theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Xây dựng đang còn nhiều cách hiểu khác nhau, chưa có sự thống nhất dẫn đến khó khăn trong việc xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng trong triển khai thực hiện, do đó phải rà soát, sửa đổi cho phù hợp…

Đặc biệt, báo cáo của Bộ Tài chính đã nêu rõ tình trạng một số bộ, ngành, địa phương chưa hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn năm 2018 theo đúng phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, phải điều chỉnh kế hoạch thực hiện cho phù hợp với thực tế.

Tiến độ phê duyệt đề án cơ cấu lại các DNNN thuộc thẩm quyền phê duyệt của các bộ, ngành, địa phương theo Quyết định số 707/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ còn chậm; việc triển khai đề án cơ cấu lại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chậm, đặc biệt là nội dung thoái vốn, cổ phần hóa.

Việc chuyển giao các DN sau cổ phần hóa về SCIC; đăng ký giao dịch, niêm yết trên sàn chứng khoán; quyết toán bàn giao sang công ty cổ phần; chấp hành chế độ báo cáo chưa được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, quyết liệt tại một số bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; một số bộ, ngành, địa phương, DN gặp vướng mắc, lúng túng, chưa thống nhất trong quá trình triển khai cổ phần hóa, thoái vốn theo các quy định mới; vẫn còn DNNN sản xuất, kinh doanh hiệu quả thấp, thua lỗ, không tương xứng với nguồn lực nắm giữ.

Chậm quyết toán bàn giao sang công ty cổ phần của các DN đã cổ phần hóa chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, làm ảnh hưởng đến việc xác định phần vốn nhà nước thu nộp các khoản thu từ cổ phần hóa theo quy định như: Tổng công ty Thép Việt Nam (đã chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần từ ngày 29/9/2011), Tập đoàn Dệt may Việt Nam (đã chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần từ ngày 29/1/2015...

Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, vai trò chủ sở hữu vốn nhà nước của Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại DN đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đã tiếp nhận còn phát sinh một số vướng mắc như việc xác định cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với một số dự án đầu tư của tập đoàn kinh tế, tổng công ty, về phân công, phân cấp thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư…

Việc rà soát, phê duyệt phương án sử dụng đất của DN thực hiện cổ phần hóa gặp nhiều khó khăn, nhiều quy trình thủ tục mất nhiều thời gian do lịch sử pháp lý đất đai phức tạp, địa phương phê duyệt chậm, kéo dài thời gian hơn so với quy định...

Làm rõ các nguyên nhân

Lý giải về các tồn tại hạn chế nêu trên, có nhiều nguyên nhân được chỉ ra. Trong đó, về khách quan, do tình hình phức tạp, căng thẳng trong các quan hệ kinh tế, chính trị trên thế giới và khu vực ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán trong nước và khu vực. Đồng thời, quy mô thị trường chứng khoán trong nước còn chưa đủ lớn, khó có thể hấp thụ hết toàn bộ số vốn mà DNNN thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn trong một khoảng thời gian nhất định, phát triển chưa bền vững nên giá cổ phiếu trên thị trường tăng giảm bất thường, dẫn đến khó khăn cho việc cổ phần hóa, thoái vốn.

Các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại giai đoạn này hầu hết là các doanh nghiệp lớn, có tình hình tài chính phức tạp, sở hữu nhiều đất đai; hoặc là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, gắn liền với các hoạt động của địa phương, đóng góp vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các chiến lược, mục tiêu về an sinh xã hội của địa phương.

Về Nguyên nhân chủ quan, nhiều bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty chưa khẩn trương xây dựng, phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cơ cấu lại đối với các DNNN theo Quyết định số 707/QĐ-TTg và Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ dẫn tới việc không thể triển khai các công việc tiếp theo như cổ phần hóa, thoái vốn, thay đổi quản trị DN để thực sự nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN.

Trong quá trình tổ chức thực hiện của một số bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn chưa thực sự nghiêm túc triển khai kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu DN, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của DN, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.

Việc lập phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Nghị định số 167/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về sắp xếp lại, xử lý tài sản công còn rất chậm, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Một nguyên nhân nữa được chỉ ra, đó là DNNN không muốn thoái vốn khỏi những ngành, lĩnh vực phát triển mạnh, có tỷ suất sinh lời cao làm cho tiến độ thoái vốn chậm lại. Một số đơn vị thuộc diện thoái vốn đang bị cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện thanh tra, kiểm tra, điều tra vì vi phạm các quy định về quản lý sử dụng vốn nhà nước theo quy định hiện hành.

Bên cạnh đó, còn những DNNN đã triển khai cơ cấu lại nhưng vẫn chưa đạt kết quả như kỳ vọng, nguyên nhân do: các DN sau cổ phần hóa chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực khai khoáng, năng lượng, cơ khí có điều kiện sản xuất kinh doanh, thị trường khó khăn; trình độ quản lý, quản trị DN, năng lực chuyên môn của người lãnh đạo còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Bộ Tài chính cho biết, lũy kế đến hết tháng 9/2019, có 09 DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị DN là 780 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 670 tỷ đồng; có 12/62 DN thuộc danh mục ban hành theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thực hiện thoái vốn với giá trị 783 tỷ đồng, thu về 1.700 tỷ đồng; các tập đoàn, tổng công ty, DNNN ngoài danh mục theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg thoái vốn với tổng giá trị 2.432 tỷ đồng, thu về 4.653 tỷ đồng.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM