Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và lộ trình thời gian tới

TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan

(Taichinh) - Việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nước ta thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm và kết quả đạt được chưa như kỳ vọng. Trước tình hình đó, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, mục tiêu đặt ra là sẽ thực hiện thoái toàn bộ vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc các ngành không cần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn, thoái vốn nhà nước xuống mức sàn quy định đối với các ngành mà Nhà nước sắp xếp, cơ cấu lại vốn đầu tư.
Ảnh minh họa. Nguồn: InternetẢnh minh họa. Nguồn: Internet

Kết quả tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước từ 2011 đến nay

Trong giai đoạn 2011-2015, Nhà nước đã đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (DN). Hàng loạt cơ chế chính sách về quản lý tài chính DN và sắp xếp, cổ phần hóa (CPH), thoái vốn nhà nước tại DN đã được ban hành và được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tiễn hoạt động của DN và tình hình thị trường. Trong giai đoạn 2011 - 2015 đã sắp xếp được 588 DN, trong đó CPH được 508 DN và sắp xếp theo các hình thức khác 80 DN.

Tổng giá trị thực tế của 508 DN thực hiện CPH là 760.774 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế phần vốn nhà nước là 188.274 tỷ đồng; Tổng vốn điều lệ theo phương án được phê duyệt là 197.217 tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 128.031 tỷ đồng (bằng 65%); Nhà đầu tư chiến lược nắm giữ 31.065 tỷ đồng (bằng 15,8%); Người lao động nắm giữ 4.042 tỷ đồng (bằng 2%); Tổ chức công đoàn nắm giữ 1.124 tỷ đồng (bằng 0,5%); và bán công khai là 32.931 tỷ đồng (bằng 16,7%).

Về thoái vốn ngoài ngành, trong giai đoạn 2011- 2015 đã thoái được 11.036 tỷ đồng, thu về 10.742 tỷ đồng (số thu về giảm so với sổ sách do Tập đoàn Dầu khí thoái 800 tỷ đồng và Tổng công ty Lương thực miền Nam thoái 1,3 tỷ đồng với giá 0 đồng theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước).

Trong giai đoạn này, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã tiếp nhận 57 DN, nâng tổng số DN SCIC tiếp nhận từ khi thành lập đến nay lên gần 1.000 DN với tổng giá trị vốn nhà nước hơn 8.722 tỷ đồng. Từ 2011 - 2015, SCIC đã thực hiện bán vốn tại 368 DN, tổng giá trị thu về đạt 6.998 tỷ đồng, gấp 2,4 lần giá trị đầu tư (2.940 tỷ đồng), thặng dư bán vốn là 4.058 tỷ đồng.

Trong 10 tháng đầu năm 2016, công tác tái cơ cấu DNNN tiếp tục được triển khai quyết liệt và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Thời gian qua, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, DNNN đã tích cực triển khai Đề án tái cơ cấu theo tinh thần Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các cơ chế, chính sách về tái cơ cấu, sắp xếp, CPH DNNN đã được ban hành, tạo thuận lợi cho các DN thực hiện. Số lượng DN thực hiện CPH, sắp xếp đạt kế hoạch theo đề án tái cơ cấu được duyệt. Việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành vào 05 lĩnh vực nhạy cảm được triển khai quyết liệt. Quản trị DN tiếp tục được đổi mới.

Theo Vụ Đổi mới DN (Văn phòng Chính phủ), lũy kế 10 tháng đầu năm 2016 (tính đến 20/10/2016) đã có 51 DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án CPH, trong đó có 06 tổng công ty nhà nước. Tổng giá trị thực tế của 51 DNNN đã được phê duyệt phương án CPH là 32.032 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại DN là 23.344 tỷ đồng.

Theo phương án CPH được cấp có thẩm quyền phê duyệt, vốn điều lệ của 51 đơn vị là 23.086 tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 11.133 tỷ đồng, bán cho nhà đầu tư chiến lược 7.473 tỷ đồng, bán cho người lao động 346,1 tỷ đồng, tổ chức công đoàn 6,7 tỷ đồng, số lượng cổ phần bán đấu giá công khai là 4.126 tỷ đồng.

Về hoạt động thoái vốn, trong 10 tháng đầu năm 2016, có 3 tổng công ty báo cáo bổ sung tình hình thoái vốn tại các lĩnh vực ngoài 5 lĩnh vực nhạy cảm (Tổng công ty ACC, Tổng công ty Phát triển khu công nghiệp Đồng Nai, Tổng công ty Cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn);

SCIC thoái vốn tại 5 DN với tổng giá trị 46,4 tỷ đồng, thu về 26,8 tỷ đồng, giá thu về thấp hơn so với giá trị sổ sách bán ra do SCIC thoái vốn dưới mệnh giá tại 2 DN (Công ty cổ phần Sản xuất bì và hàng xuất khẩu, Công ty cổ phần Doximeco). Tính chung 10 tháng đầu năm, các đơn vị đã thoái được 3.352 tỷ đồng, thu về 6.4078 tỷ đồng, trong đó:

Thoái vốn tại 5 lĩnh vực nhạy cảm: Các tập đoàn, tổng công ty đã thoái được 481 tỷ đồng, thu về 441 tỷ đồng tại 05 lĩnh vực nhạy cảm; Thoái vốn đầu tư ở DN khác (ngoài 05 lĩnh vực nhạy cảm): Các tập đoàn, tổng công ty đã thoái 1.382 tỷ đồng, thu về 2.121 tỷ đồng tại các DN có vốn đầu tư vào các lĩnh vực ngoài 5 lĩnh vực nhạy cảm nêu trên. Những kết quả quan trọng đạt được trong những năm vừa qua bao gồm:

Một là, đổi mới quản trị về vật tư và tài chính như: Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao vật tư phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh, thị trường và các chủng loại vật tư mới; điều chỉnh mối quan hệ tín dụng của các DNNN theo hướng công ty mẹ không bảo lãnh cho các công ty con trong hoạt động tín dụng nhằm tăng cường tính chủ động và trách nhiệm về tài chính của các công ty con theo cơ chế tự vay, tự trả…

Hai là, lao động dôi dư tại các đơn vị thực hiện CPH, giao, bán được hưởng chính sách trợ cấp; được hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại nghề để bố trí việc làm mới tại DN CPH hoặc tự thu xếp công việc mới đã góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, CPH, duy trì ổn định xã hội.

Ba là, đổi mới quản trị về tổ chức: Thực hiện sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, thu gọn các phòng ban, đơn vị đầu mối tại công ty mẹ, ban hành các quy định mới về quyền hạn, trách nhiệm và tiêu chuẩn của các vị trí điều hành góp phần kiện toàn, nâng cao năng lực quản trị, điều hành DN.

Bốn là, đổi mới quản trị về khoa học công nghệ: Thực hiện xử lý các tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, lạc hậu về kỹ thuật, tập trung vốn để đầu tư những tài sản, dây chuyền công nghệ tiên tiến tạo điều kiện tăng năng suất lao động của DN.

Năm là, công tác CPH DN góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho DN sau khi CPH huy động vốn, đổi mới phương thức quản lý, công nghệ, gắn kết người lao động với DN, DN phát triển ổn định trong xu thế hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới…

Lộ trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thời gian tới

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, song tiến trình tái cơ cấu DNNN vẫn được đánh giá là diễn ra chậm. Nguyên nhân chủ yếu là do các đơn vị vừa phải tiếp tục hoàn thành những việc còn dang dở đặt ra trong kế hoạch giai đoạn 2011 – 2015; vừa phải triển khai xây dựng kế hoạch sắp xếp, CPH, tái cơ cấu theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nên tiến độ CPH thoái vốn diễn ra chậm và chưa đạt kết quả như kỳ vọng.

Lũy kế 10 tháng năm 2016 (tính đến ngày 20/10/2016) đã có 51 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hoá, trong đó có 06 tổng công ty nhà nước. Tổng giá trị thực tế của 51 doanh nghiệp nhà nước đã được phê duyệt phương án cổ phần hoá là 32.032 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là 23.344 tỷ đồng. 

Một nguyên nhân nữa cũng “níu chân” tiến trình tái cơ cấu DNNN là do đối tượng sắp xếp, CPH hầu hết là các DN có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành nghề, tài chính phức tạp nên cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý. Mặt khác, việc thực hiện CPH, tái cơ cấu đối với các DN có quy mô vốn lớn cần sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và năng lực quản trị, đầu tư tốt nên cũng cần nhiều thời gian để chuẩn bị.

Trước bối cảnh đó, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong cơ cấu lại nền kinh tế. Nghị quyết nêu rõ “xử lý dứt điểm các DNNN thua lỗ, các dự án đầu tư của DNNN không hiệu quả theo nguyên tắc và cơ chế thị trường; xem xét, thực hiện phá sản DNNN theo quy định của pháp luật về phá sản DN”.

Theo đó, mục tiêu trong giai đoạn 2016-2020, sẽ thực hiện thoái toàn bộ vốn nhà nước tại các DN thuộc các ngành không cần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn, thoái vốn nhà nước xuống mức sàn quy định đối với các ngành mà Nhà nước sắp xếp, cơ cấu lại vốn đầu tư.

Nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu đặt ra, Chính phủ đã xây dựng lộ trình CPH DNNN thời gian tới. Cụ thể, trong giai đoạn 2016-2020, tiếp tục chỉ đạo triển khai quyết liệt quá trình CPH DNNN, đối tượng CPH tiếp tục được mở rộng tới các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước lớn đòi hỏi phải có các cơ chế liên quan hướng dẫn phù hợp nhằm xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính trước khi xác định giá trị DN; tổ chức định giá sát với giá thị trường;

Mục tiêu của giai đoạn 2016-2020 là sẽ thực hiện thoái toàn bộ vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc các ngành không cần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn, thoái vốn nhà nước xuống mức sàn quy định đối với các ngành mà Nhà nước sắp xếp, cơ cấu lại vốn đầu tư.

Tiếp tục bán cổ phần công khai, minh bạch; gắn quá trình CPH với quá trình phát triển của thị trường chứng khoán và thu hút được các nhà đầu tư tham gia mua cổ phần góp phần đổi mới quản trị DN; nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh của DN sau CPH, hạn chế thất thoát vốn và tài sản Nhà nước trong quá trình CPH. Trên cơ sở mục tiêu đặt ra, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành một số cơ chế sau:

Thứ nhất, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Tiêu chí phân loại DNNN, DN có vốn nhà nước và danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016-2020 (thay thế Quyết định 37/2014/QĐ-TTg) theo hướng thu hẹp lĩnh vực Nhà nước nắm giữ 100% vốn; đồng thời, ban hành danh sách DN thực hiện sắp xếp, CPH giai đoạn 2016 - 2020 kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để làm cơ sở cho các đơn vị thực hiện.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần làm cơ sở pháp lý để thực hiện CPH trong giai đoạn 2016-2020 theo hướng phù hợp với đối tượng CPH và yêu cầu giai đoạn mới như: Xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, công nợ, lao động của các DN CPH; Bổ sung áp dụng phương thức bán cổ phần lần đầu phù hợp với thông lệ quốc tế; Quy định rõ tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, điều chỉnh phương thức cho phù hợp tình hình thực tế;

Thứ ba, tiếp tục hướng dẫn việc sắp xếp, xác định giá trị quyền sử dụng đất trong DN CPH theo quy định của Luật Đất đai năm 2013; Điều chỉnh chính sách bán cổ phần ưu đãi cho người lao động theo hướng quy định rõ người lao động chỉ phải thanh toán 60% giá trị một cổ phần mua ưu đãi tính theo mệnh giá;

Quy định rõ và quản lý chặt chẽ tiền thu từ CPH các DN; Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có liên quan thông qua việc bổ sung đối tượng phải thực hiện Kiểm toán Nhà nước trước khi công bố giá trị DN; Tiếp tục gắn kết quá trình CPH với việc đăng ký giao dịch và niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; Quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức cá nhân tham gia trong quá trình CPH;

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế về hoạt động của DNNN để thực hiện sắp xếp, tăng cường minh bạch báo cáo tài chính, thông tin tài chính, kinh doanh, điều hành tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; tăng cường trách nhiệm của Hội đồng thành viên và Ban điều hành và xử lý trách nhiệm nếu không thực hiện đúng quy định. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra của chủ sở hữu nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào DN (thay thế Nghị định 99/2012/NĐ-CP). Thành lập cơ quan quản lý để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giám sát, kiểm tra, quản lý sử dụng, bảo toàn, phát triển vốn và đánh giá hiệu quả vốn nhà nước đầu tư vào DN. Đồng thời, có cơ chế, chế tài để các tổ chức, cá nhân thực hiện có hiệu quả các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ được phân công, phân cấp.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tình hình tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 929/QĐ-TTg và 10 tháng năm 2016, phương hướng nhiệm vụ trong giai đoạn 2016-2020;

2. Nghị định 69/2014/NĐ-CP về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước;

3. Quyết định 35/2013/QĐ -TTg ban hành Quy chế hoạt động của Kiểm soát viên công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;

4. Nghị định 128/2014/NĐ-CP về bán, giao và chuyển giao DN 100% vốn nhà nước;

5. Nghị định 172/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và công ty TNHH một thành viên là công ty con của công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.


Bài đăng trên tạp chí Tài chính kỳ II tháng 11/2016

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục