VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585

Tỷ lệ thu thuế của Việt Nam có cao không?

(Tài chính) Hiện nay có một số ý kiến cho rằng, tỷ lệ thu ngân sách nói chung và tỷ lệ số thu thuế Việt Nam so với GDP là khá cao so với các nước trong khu vực. Vậy, tỷ lệ số thu thuế của Việt Nam so với GDP có thực sự cao hay không? Đây là vấn đề mà bài báo này sẽ tập trung làm rõ bằng những luận cứ khoa học và thực tiễn.

Trong “Báo cáo kinh tế 2012: Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu”, Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, trung bình trong giai đoạn 2007 - 2011, tỷ lệ thu ngân sách so với GDP của Việt Nam là 29%, trong đó, thu nội địa đạt tỷ lệ 26,3% GDP. Nếu trừ thu từ dầu thô thì tỷ lệ thuế, phí trên GDP trong giai đoạn này là 21,6% GDP. Báo cáo này cũng nhận định rằng, tỷ lệ thuế, phí so với GDP của Việt Nam như vậy là tương đối cao so với các nước trong khu vực với những số liệu minh họa chi tiết kèm theo. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần xem lại tính chính xác và hợp lý của nhận định này vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, các số liệu về tỷ lệ số thu thuế so với GDP mà Bản Báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội dẫn ra chưa nêu đầy đủ số liệu tỷ lệ số thu thuế so với GDP của các nước trên thế giới, mà mới nêu 6 nước trong khu vực (gồm có: Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Ấn Độ), và đây lại là nhóm nước theo số liệu thống kê thuộc nhóm nước có tỷ lệ số thu thuế so với GDP ở mức thấp. Theo tài liệu điều tra gốc “ADB Key Economic Indicator for Asia and the Pacific (2011) của Ngân hàng phát triển châu Á”, có trình bày số liệu so sánh số thu thuế so với GDP của 48 nước trên thế giới. Theo đó, năm 2011 có 4/48 nước có tỷ lệ số thu thuế so với GDP ở mức trên 25%, có 5/48 nước có tỷ lệ số thu thuế so với GDP ở mức từ 20% đến 24%, có 9/48 nước có tỷ lệ số thu thuế so với GDP ở mức từ 15% đến xấp xỉ 20%, còn lại là các nước có tỷ lệ số thu thuế so với GDP ở mức dưới 15%. Theo tài liệu này, tỷ lệ số thu thuế của Việt Nam so với GDP ở mức 23,1%. Như vậy, trong số 48 nước mà ADB đã công bố số liệu điều tra, Việt Nam ở vào nhóm trung bình cao. Tuy nhiên, báo cáo này đã bỏ qua số liệu của nhiều nước trên thế giới có tỷ lệ số thu ngân sách so với GDP cao hơn nhiều so với Việt Nam. Từ một nguồn số liệu đầy đủ hơn, theo điều tra của Heritage Foundation có thể giúp chúng ta đi đến một cái nhìn toàn cảnh về mức độ điều tiết qua thuế của Việt Nam. Heritage Foundation đã tiến hành điều tra và thống kê được số liệu tỷ lệ thuế so với GDP của 170 nước trên thế giới. Theo số liệu điều tra này, nếu chưa loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố làm cho sự so sánh không đồng chất, không phản ánh đúng thực chất vấn đề, chỉ nhìn vào con số thống kê đơn thuần thì tỷ lệ thu ngân sách Việt Nam cũng chỉ ở vào mức trung bình trên thế giới. Điều này thể hiện ở chỗ, theo thống kê của Heritage Foundation, số nước có tỷ lệ số thu thuế ở mức cao trên 34%/GDP là 27/170 nước; số nước có tỷ lệ số thu thuế ở mức trung bình khoảng từ 18% đến 30%/GDP là 49/170 nước; số nước có tỷ lệ số thu thuế so với GDP thấp dưới 18% là 94/170 nước. Còn theo số liệu của OECD (2008) thì tỷ lệ số thu thuế bình quân so với GDP của các nước OECD là 34,8%. Một số trường hợp điển hình được giới thiệu qua biểu đồ sau:

Tỷ lệ thu thuế của Việt Nam có cao không? - Ảnh 1

[Nguồn: Số liệu điều tra của Heritage Foundation, 2012]

Biểu đồ trên cho thấy, ở các nước phát triển và có phúc lợi xã hội cao thì tỷ lệ thuế so với GDP khá cao. Tỷ lệ này thấp hơn ở các nước mới nổi và thấp hơn nữa ở các nước chậm phát triển hơn. Như vậy, khi có số liệu thống kê đầy đủ, chưa tính đến ảnh hưởng của các yếu tố khác để đưa về cùng mặt bằng so sánh thì tỷ lệ số thu thuế của Việt Nam là ở mức trung bình trên thế giới, thậm chí chỉ ở vào mức trung bình thấp so với các nước OECD.

Thứ hai, việc so sánh cần phải đặt trong cùng một bối cảnh, cùng một điều kiện tương đồng. Nếu không làm như vậy, việc so sánh sẽ trở nên khập khiễng và không phản ánh đúng bản chất vấn đề cần so sánh. Việt Nam là một nước có hệ thống thuế thống nhất, không phân biệt thuế trung ương và thuế địa phương. Số liệu về thu thuế của Việt Nam phản ánh đầy đủ toàn bộ số thu thuế của cả nước. Trong khi đó các nước như Malaysia, Thái Lan, Indonesia… là những nước có thuế trung ương và thuế địa phương. Trở lại tài liệu gốc của ADB “ADB Key Economic Indicator for Asia and the Pacific (2011)”, ở phần chú thích số liệu cuối bảng, các nhà điều tra ghi chú rằng, số liệu này là số liệu phản ánh số thu của cấp trung ương, nước nào có chữ “c” ở cuối có nghĩa là số thu thuế của nước đó đã bao gồm cả số thu thuế của tất cả các cấp chứ không chỉ cấp trung ương, và chữ “c” này chỉ xuất hiện trên bảng số liệu sau tên nước Việt Nam. Điều này có nghĩa là, số thu thuế của một số nước như Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan chưa bao gồm số thu thuế địa phương. Do chúng ta chưa có số liệu về số thu thuế địa phương ở những nước này nên chưa có cơ sở để khẳng định nếu sau khi cộng thêm thuế địa phương vào thì số thu thuế của những nước này cao hơn hay thấp hơn Việt Nam, nhưng có một điều chắc chắn là không thể căn cứ vào số liệu đó để khẳng định số thu thuế của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực. Thêm vào đó, chính sách thuế cũng cần đặt trong điều kiện của các chính sách kinh tế khác chẳng hạn như phúc lợi xã hội, đầu tư cho phát triển. Ở những nước theo quan điểm Nhà nước ít can thiệp vào kinh tế thì chi đầu tư cho phát triển thấp, bởi vậy, thu thuế và các khoản khác của Nhà nước cũng chỉ cần ở mức thấp. Trong khi đó, Việt Nam với tư cách là nước đang phát triển có thu nhập với kết cấu hạ tầng lạc hậu, tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cao hơn so với nước đã phát triển thì rõ ràng cần một tỷ lệ thu cao hơn mới là hợp lý. Một ví dụ khác, ở một số nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch tỷ lệ thu ngân sách so với GDP luôn ở mức xấp xỉ 50% (lần lượt là 47,9% và 49%) nhưng không bị coi là cao vì khoản thu này được đầu tư trở lại cho đầu tư phát triển và cung cấp phúc lợi xã hội cho dân cư [Nguồn: Heritage Foundation, 2012).

Thứ ba, do những hạn chế nhất định về điều kiện nghiên cứu mà các số liệu về kết quả của nền kinh tế thể hiện qua GDP có thể chưa đầy đủ, song các số liệu về thu ngân sách lại được hạch toán khá chính xác. Bởi vậy, tỷ lệ thu ngân sách trên GDP thực tế có thể thấp hơn đáng kể so với con số đã tính toán ở trên.  Theo số liệu điều tra của Heritage Foundation thì tỷ lệ số thu thuế so với GDP của Việt Nam năm 2011 chỉ là 13,8%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 21,6% mà Báo cáo của Ủy ban Kinh tế ngân sách Quốc hội công bố.

Để thấy rõ hơn các chi tiết của bức tranh tổng thể về mức thu thuế của Việt Nam, cần xem xét mức thu của một số sắc thuế chính trong hệ thống thuế. Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông của Việt Nam đã được điều chỉnh giảm nhiều lần trong những năm gần đây, từ 32% cho doanh nghiệp trong nước và 25% cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã điều chỉnh ở mức trung bình thấp của hai mức này là 28% áp dụng chung (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003) và tiếp tục giảm xuống 25% (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008). Thuế suất này ở mức trung bình so với các nước trong khu vực nhưng chưa thuộc nhóm các nước có thuế suất thấp. Về thuế giá trị gia tăng, từ 4 mức thuế suất lúc bắt đầu áp dụng (năm 1999) đã bớt mức thuế suất cao nhất 20%, giữ lại 3 mức thuế suất thấp, ngoài mức thuế suất đặc biệt 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, có hai mức thuế suất 5% và 10% (áp dụng từ 1/1/2004). Đây là mức thuế suất trung bình trong khu vực. Thêm vào đó, với diện không chịu thuế giá trị gia tăng khá rộng đã làm cho tỷ lệ điều tiết qua thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam không thực sự cao. Về thuế thu nhập cá nhân, mức thuế suất cao nhất đã nhiều lần được điều chỉnh giảm, từ 60% đến nay chỉ còn 35%.

Tóm lại, từ những những nhận định và số liệu minh họa trên cho thấy, xét một cách tổng thể, mức thuế cũng như tỷ lệ số thu thuế so với GDP của Việt Nam ở mức trung bình so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Xét riêng từng sắc thuế thì có những sắc thuế có mức thu hợp lý, còn có những sắc thuế có mức thu chưa thực sự hợp lý. Những hạn chế này đã được nhận biết và chỉ ra định hướng cải cách trong Chiến lược Cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020.

Tài liệu tham khảo:

1. Heritage Foundation (2012): Số liệu thống kê số thu thuế so với GDP của một số nước trên thế giới.

2. Ủy ban Kinh tế Quốc hội (2012): Báo cáo kinh tế 2012: Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu.

3. ADB (2011) ADB Key Economic Indicator for Asia and the Pacific.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM