Các thỏa thuận bảo hộ đầu tư quan trọng giữa Việt Nam và các nước FTA

Từ cuối thế kỷ XX, các quốc gia trên thế giới đã cùng nhau xây dựng một cơ chế toàn cầu để thực hiện hoạt động đầu tư bằng các điều ước quốc tế.

Ảnh Minh họa
Ảnh Minh họa

Các hiệp định đầu tư quốc tế có thể được chia thành 3 loại như sau: (i) hiệp định đầu tư song phương (BIT). Việt Nam đã ký kết hơn 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu; (ii) các hiệp định thương mại song phương như Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA)…(iii) các hiệp định đa phương có điều khoản liên quan đến vấn đề đầu tư quốc tế như Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định đối tác kinh tế ASEAN - Nhật Bản (AJCEP)...

Các vấn đề đầu tư được điều chỉnh bởi các hiệp định đầu tư quốc tế thường bao gồm: (i) Nguyên tắc bảo hộ đầu tư là nội dung cơ bản, luôn tồn tại trong mọi hiệp định đầu tư từ truyền thống đến hiện đại, từ song phương đến đa phương. Đây là những nguyên tắc cơ bản của luật đầu tư quốc tế; (ii) cam kết khuyến khích đầu tư cũng như mở cửa thị trường đầu tư. Những cam kết này thường chỉ có trong các hiệp định đầu tư được ký kết vài năm trở lại đây, cụ thể là trong các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu (VN-EAEU FTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định TPP; (iii) Các quy định liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Các quy định trên trong hiệp định đầu tư là khác nhau.

Khi áp dụng và thực hiện các hiệp định đầu tư, hoạt động chủ yếu mà các chính phủ, nhà đầu tư và trọng tài viên thường phải trả lời đầu tiên là các mối quan tâm mà hiệp định áp dụng cho những giao dịch nào và loại tài sản nào. Phạm vi áp dụng của hiệp định đầu tư về cơ bản dựa trên hai yếu tố, thứ nhất là “nhà đầu tư” được bảo vệ và thứ hai là “khoản đầu tư” được bảo hộ.

Vì lý do trên, trong hầu hết các vụ tranh chấp đầu tư quốc tế cho đến thời điểm hiện tại, một trong những vấn đề khiến các bên tranh cãi ngay từ đầu là Hội đồng trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hay liệu việc đầu tư và nhà đầu tư trong tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định đầu tư.

Hầu hết các hiệp định đầu tư quốc tế đã định nghĩa “đầu tư” là một tài sản chứ không phải là một giao dịch để sở hữu một tài sản. Với các thỏa thuận đầu tư hiện đại, phạm vi tài sản được coi là “đầu tư” thường rộng hơn nhiều.

Trên thực tế, các thỏa thuận này đưa ra khái niệm “đầu tư” là “tất cả các loại tài sản” và tiếp tục cung cấp một danh mục đầu tư (nhưng là danh mục đầu tư mở) gồm các loại tài sản có thể được coi là một khoản đầu tư. Ngay cả trong trường hợp một loại tài sản có thể đáp ứng các điều kiện để được coi là đầu tư theo thỏa thuận đầu tư, một cá nhân hoặc tổ chức không thể được bảo vệ theo thỏa thuận đầu tư. Một nhà đầu tư chỉ có thể được bảo vệ nếu cá nhân hoặc tổ chức đó được coi là “nhà đầu tư” theo quy định của thỏa thuận đầu tư.

Vấn đề quan trọng tiếp theo là làm thế nào để xác định mối quan hệ giữa các cá nhân hoặc tổ chức với Bên tham gia thỏa thuận để được bảo vệ. Các hiệp định đầu tư thường có quy định riêng về “thể nhân” và “pháp nhân” liên quan đến nhà đầu tư.

Sau đây là các hiệp định điều chỉnh các vấn đề quan trọng về bảo hộ đầu tư giữa các nước trên thế giới và Việt Nam:

Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN-Ấn Độ (AITIG): Sở hữu vị trí quan trọng ở trung tâm khu vực ASEAN và khu vực Mekong, Việt Nam luôn được coi là đối tác quan trọng trong quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN.

Với AITIG, hai nước sẽ có thể gia tăng động lực hợp tác, từ thương mại đến các lĩnh vực tiềm năng như công nghiệp, khai thác dầu khí, khoáng sản, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng, chế biến nông sản, công nghệ thông tin, du lịch hàng không, y tế, giáo dục và đặc biệt là đầu tư.

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) được ký kết ngày 5/5/2015 và chính thức có hiệu lực vào ngày 20/12/2015. Trong nhiều năm qua, Hàn Quốc luôn là nhà đầu tư nước ngoài quan trọng tại Việt Nam. Các cam kết mở cửa thị trường rộng rãi hơn để tiếp cận dịch vụ và đầu tư từ Hàn Quốc, cũng như các cam kết bảo hộ đầu tư, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc theo Hiệp định VKFTA chắc chắn sẽ trở thành động lực thúc đẩy thu hút đầu tư từ Hàn Quốc vào Việt Nam.

Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á-Âu (EEUV-FTA): Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu (gồm Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan với Việt Nam) được ký kết vào ngày 29/5/2015.

Hiệp định có hiệu lực từ ngày 5/10/2016, hiệp định này là Hiệp định Thương mại tự do đầu tiên của liên minh kinh tế EAEU với Việt Nam, chính vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích khi xuất khẩu hay thu hút đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ để tái cấu trúc doanh nghiệp và nền kinh tế.

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được ký kết tại Chile đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến không ít thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam. Với sự tham gia của 11 quốc gia ở hai bờ Thái Bình Dương, sở hữu mức độ và phạm vi cam kết sâu rộng đã khiến môi trường và điều kiện kinh doanh trên thế giới nói chung và các nước thành viên CPTPP nói riêng có những thay đổi đáng kể.

Các nước ký kết hiệp định đã xóa bỏ cho nhau gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình, tự do hóa các hoạt động dịch vụ, đầu tư với yêu cầu tuân thủ pháp luật cũng như đảm bảo sự quản lý của nước sở tại.

Với những ưu điểm trên, CPTPP đã tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp cũng như nâng cao lợi ích của người tiêu dùng tại các quốc gia tham gia hiệp định. CPTPP cũng giúp Việt Nam tăng GDP nhờ thu hút đầu tư và thực hiện hiệu quả các hoạt động thương mại với các nước tham gia hiệp định CPTPP.

Theo Duy Hưng/congthuong.vn