VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
 Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh gấp 4 lần so với cùng kỳ 2020

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh gấp 4 lần so với cùng kỳ 2020

Tính đến ngày 16/4/2021, tín dụng toàn nền kinh tế đạt 9.499.546 tỷ đồng, tăng 3,34% so với cuối năm 2020. Tốc độ này tăng trưởng nhanh gấp hơn 4 lần so với mức tăng 0,78% của cùng kỳ 2020.

Thanh toán qua di động và QR code tại Việt Nam tiếp tục bùng nổ

Kiểm soát chặt tín dụng trong lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro

Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP Việt Nam ở top cao, dư địa tiền tệ ngày càng hẹp

Ưu tiên phát triển dịch vụ tài chính - ngân hàng

Theo số liệu từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), tính đến ngày 16/4/2021, tín dụng toàn nền kinh tế đạt 9.499.546 tỷ đồng, tăng 3,34% so với cuối năm 2020. Tốc độ này tăng trưởng nhanh gấp hơn 4 lần so với mức tăng 0,78% của cùng kỳ 2020.

Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Cụ thể, đến cuối tháng 3/2021, dư nợ tín dụng đối với ngành nông, lâm, thủy sản đạt 776.918 tỷ đồng, 794.470 tỷ đồng, tăng 2,42% so với cuối năm 2020, chiếm 8,4% (cuối năm 2020 tăng 8,3%, chiếm 8,44%). Dư nợ tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng đạt 2.674.683 tỷ đồng, tăng 3,42% so với cuối năm 2020, chiếm 28,27% tín dụng nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 9,58%, chiếm 28,13%).

Dư nợ tín dụng ngành thương mại dịch vụ đạt 5.992.958 tỷ đồng, tăng 2,79% so với cuối năm 2020, chiếm 63,34% tín dụng nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 13,9%, chiếm 63,43%). Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 2.327.762 tỷ đồng, tăng 2,4% so với năm 2020 và chiếm tỷ trọng 24,6% tổng dư nợ toàn nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 11,52%, chiếm 24,78%). Ước cuối tháng 4/2020, dư nợ lĩnh vực này khoảng 2.287.000 tỷ đồng, tăng khoảng 3% so với cuối năm 2020.

Tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 1.845.374 tỷ đồng, tăng 1,49% so với cuối năm 2020, chiếm 19,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 13,56%, chiếm 19,79%). Ước dư nợ đến hết tháng 4/2021 đạt 1,86 triệu tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2020.

Tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu (không bao gồm đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) đạt 279.075 tỷ đồng, tăng khoảng 2,5% so với cuối năm 2020, chiếm 2,95% tổng dư nợ toàn nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 13,66%, chiếm 2,96%). Ước cuối tháng 4/2021, dư nợ lĩnh vực này khoảng 281.797 tỷ đồng, tăng khoảng 3,5% so với cuối năm 2020.

Tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ đạt 234.321 tỷ đồng, tăng 3,04% so với cuối năm 2020 và chiếm tỷ trọng 2,48% dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế (cuối năm 2020 giảm 1,74%, chiếm tỷ trọng 2,47%). Ước đến 30/4/2021, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ đạt 233.935 tỷ đồng, tăng 2,91% so với cuối năm 2020.

Tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 32.470 tỷ đồng, tăng 0,3% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 0,33% dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 5,26%, chiếm 0,35%. Ước đến tháng 4/2021, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt  31.861 tỷ đồng, giảm 1,58 % so với 31/12/2020.

Ước tính tới cuối tháng 3/2021, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt khoảng 1,85 triệu tỷ đồng, tăng 3% so với tháng 12/2020 (quý I/2020 tăng 1,45%, quý I/2019 tăng 3,42%, quý I/2018 tăng 1,68%), cao hơn không đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung (2,93%).

Với lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, ước đến 31/3/2021, dư nợ lĩnh vực này khoảng 45.326 tỷ đồng, giảm khoảng 1% so với cuối năm 2020.​

Với các dự án BOT, BT giao thông, tới thời điểm cuối tháng 3 dư nợ ước đạt 108.562 tỷ đồng, giảm 0,15% so với cuối năm 2020.

Ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Chính sách Tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, từ nay đến cuối năm, lãi suất sẽ ổn định, có cơ sở giảm trong thời gian tới nếu lạm phát kiểm soát ổn định. 

Tỷ giá và thị trường ngoại tệ được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, thị trường ngoại tệ ổn định, thanh khoản thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM