VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585
Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động xã hội hóa

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động xã hội hóa

Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2021, Thông tư số 71/2021/TT-BTC, ngày 17/8/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa chưa truy thu theo Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/9/2014 của Chính phủ có nhiều điểm mới cần lưu ý.

Chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Mối quan hệ giữa cơ sở thuế thuế thu nhập doanh nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hiệu quả quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế quận Hà Đông

Theo đó, Thông tư số 71/2021/TT-BTC bãi bỏ Điều 24 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.

Thông tư quy định trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của các cơ sở thực hiện xã hội hóa thành lập trước ngày Quyết định số 1470/QĐ-TTg ngày 22/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành, có thu nhập từ hoạt động xã hội hóa, phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế TNDN như sau:

Thứ nhất, các cơ sở thực hiện xã hội hóa được hưởng ưu đãi về thuế TNDN theo quy định pháp luật và quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong từng thời kỳ, cụ thể:

Cơ sở thực hiện xã hội hóa đáp ứng các điều kiện theo danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô tiêu chuẩn các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường ban hành kèm theo Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại theo quy định của pháp luật thu thuế TNDN kể từ khi đáp ứng các điều kiện tại Quyết định số 1466/QĐ-TTg.

Cơ sở thực hiện xã hội hóa đáp ứng các điều kiện được quy định theo danh mục kèm theo Quyết định số 693/QĐ-TTg ngày 6/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại kể từ khi đáp ứng các điều kiện tại Quyết định số 693/QĐ-TTg.

Cơ sở thực hiện xã hội hóa đáp ứng các điều kiện được quy định theo danh mục sửa đổi, bổ xung một số nội dung của danh mục kèm theo Quyết định số 1470/QQ-TTg ngày 22/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại kể từ khi đáp ứng các điều kiện tại Quyết định 1470/QĐ-TTg.

Trường hợp cơ sở thực hiện xã hội hóa đáp ứng các điều kiện theo danh mục chi tiết quy định trước thời điểm các Quyết định số 1466/QĐ-TTg hoặc Quyết định số 693/QĐ-TTg hoặc Quyết định số 1470/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại kể từ thời điểm các Quyết định trên có hiệu lực thi hành.

Thứ hai, các cơ sở thực hiện xã hội hóa không đáp ứng các điều kiện theo quy định tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nêu trên phải thực hiện kê khai bổ sung số thuế TNDN còn thiếu (nếu có), tự tính số thuế TNDN phải nộp hoặc cơ quan thuế thực hiện truy thu số thuế TNDN theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành đến thời điểm đáp ứng các điều kiện đáp ứng theo quy định tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Thứ ba, cơ sở thực hiện xã hội hóa có thuế TNDN phát sinh quy định tại khoản 2 nói trên không bị phạt vi phạm pháp luật thuế, không bị tính tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế TNDN tạm thời chưa truy thu theo quy định tại Điều 24 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính đến thời điểm thông tư này có hiệu lực thi hành.

Sau thời điểm thông tư này có hiệu lực (ngày 01/11/2021) mà cơ sở thực hiện xã hội hóa chưa nộp số thuế TNDN tạm thời chưa thu nêu trên thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế chưa nộp và bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế (nếu có).

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM