FDI năm 2010 và triển vọng năm 2011

GS., TSKH Nguyễn Quang Thái

TCTC Online - Năm 2010 kinh tế Việt Nam tiếp tục có bước hồi phục mạnh hơn. Trong bức tranh chung đó, khu vực có vốn FDI đã đóng góp phần quan trọng. Tuy nhiên, những thách thức và yếu kém của khu vực FDI bộc lộ rõ trong năm 2010 cũng đã làm đậm nét hơn nhu cầu phải tái cấu trúc nền kinh tế.

 Thành tựu khu vực FDI năm 2010

Số liệu thống kê của 2/3 chặng đường năm 2010 cho thấy, vốn FDI thực hiện 8 tháng đầu năm 2010 ước đạt 7,25 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Đây là một tín hiệu tốt, phản ánh sự quan tâm đến thị trường Việt Nam ngay trong giai đoạn kinh tế thế giới phục hồi chậm.

Giá trị kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI gia tăng mạnh mẽ trong 8 tháng đầu năm. Xuất khẩu của khu vực FDI kể cả dầu thô ước đạt 23,94 tỷ USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu khác của khu vực FDI (không  kể dầu thô) ước đạt 20,65 tỷ USD, tăng 39,9% so với cùng kỳ. Trong 8 tháng đầu năm, khu vực FDI xuất siêu 1,59 tỷ USD, trong khi cả nước nhập siêu 8,16 tỷ USD. Nếu không tính xuất khẩu dầu thô, khu vực FDI nhập siêu 1,7 tỷ USD, chiếm 19,7% giá trị nhập siêu cả nước. Đây là mức nhập siêu không lớn so với quy mô xuất khẩu của cả nền kinh tế.

Các doanh nghiệp FDI vẫn thu hút nhiều lực lượng lao động, với quy mô khoảng hơn 300 lao động/doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tìm kiếm lao động có tay nghề của các doanh nghiệp FDI vẫn gặp khó khăn nhất định, thậm chí việc huy động lao động phổ thông, làm việc có năng suất trong môi trường công nghiệp cũng không phải là dễ.

Theo các báo cáo nhận được, trong 8 tháng đầu năm 2010, cả nước có 658 dự án đăng ký mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT), tổng số vốn đăng ký là 10,79 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm trước. Đây là con số khá cao trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Nó cho thấy, các doanh nghiệp FDI vẫn tiếp tục quan tâm đến thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, đây phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số vốn dưới 20 triệu USD.

Tuy nhiên, trong 8 tháng đầu năm 2010, chỉ có 143 dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 0,787 tỷ USD, bằng 14,2% số vốn và 53% số dự án so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 8 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 11,577 tỷ USD, bằng 87,7% so với cùng kỳ 2009. Con số khiêm tốn này phản ánh khung cảnh kinh tế thế giới vẫn còn trong khó khăn và sự cạnh tranh đầu tư vào Việt Nam vẫn còn là điều phải suy nghĩ.

Điều đáng lưu ý là, trong khi một số nhà đầu tư còn e dè vì môi trường đầu tư còn nhiều khó khăn cả về luật pháp và cơ sở hạ tầng, thì một đánh giá chung của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF 2010/2011 vừa qua cho thấy, thứ hạng cạnh tranh quốc gia GCI của Việt Nam đã tăng 16 bậc, đạt thứ 59 trong 137 quốc gia được so sánh, tức là xếp ở nửa hạng trên. Cũng trong luồng thông tin thuận chiều này, Việt Nam chính thức gia nhập Nhóm các nền kinh tế có thu nhập trung bình với tổng thu nhập quốc dân GNI bình quân đầu người đạt trên 1000 USD/người.

Theo lĩnh vực đầu tư, thì công nghiệp chế biến chế tạo là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với trên 3,7 tỷ USD vốn đăng ký, với 265 dự án đầu tư được cấp mới với tổng số vốn cấp mới là 3 tỷ USD và 102 lượt dự án mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh với tổng số vốn tăng thêm là 645 triệu USD, chiếm 31,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đây rõ ràng là một hướng ưu tiên cần phát huy, đồng thời cũng cần xem xét kỹ lưỡng, có bao nhiều dự án đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao. Công nghiệp năng lượng chiếm vị trí thứ 2, với 6 dự án đầu tư được cấp phép trong 8 tháng đầu năm trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước điều hòa với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,94 tỷ USD, chiếm 25,4% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 8 tháng đầu năm. Kinh doanh bất động sản vẫn duy trì ở vị trí  thứ 3 với 2,39 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm, chiếm 20,7% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 8 tháng đầu năm. Cũng ghi nhận rằng, số cấp phép mới chiếm tỷ lệ lớn với 16 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 2,36 tỷ USD. Tuy nhiên, cũng phải kể thêm tình trạng chưa thuận lợi một số địa phương khi xem xét đã phải rút giấy đăng ký kinh doanh, do các nhà đầu tư chậm “vào” Việt Nam để triển khai dự án. Thêm vào đó, cũng có tình trạng dự án đăng ký vốn FDI là chủ yếu, nhưng khi triển khai lại dùng mọi cách để thu hút vốn trong nước (như bán căn hộ, bán một phần dự án chưa xây xong,... để lấy tiền triển khai dự án chính).

Theo đối tác đầu tư, trong 8 tháng đầu 2010, có 47 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hà Lan với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,2tỷ USD chiếm 19,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng  thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,92 tỷ USD, chiếm 16,5% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam; Hoa Kỳ đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký là 1,87 tỷ USD, chiếm 16,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam trong năm 2010. Kenya lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam với 1 dự án trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, có tổng vốn đầu tư đăng ký là 16 triệu USD. Cũng cần nhấn mạnh là, nhiều đối tác đầu tư quan trọng đã có bước chuyển mạnh mẽ trong thực hiện dự án, như các đối tác Nhật Bản, Tây Âu, tạo nên sự chuyển biến tích cực trong nền kinh tế. 

Bảng 1: FDI 8 tháng đầu năm 2010

 

TT

 

Chỉ tiêu

 

Đơn vị tính

 

8 tháng năm 2009

 

8 tháng năm 2010

 

So cùng kỳ

 

1

 

Vốn thực hiện

 

triệu USD

 

7,000

 

7,250

 

103.6%

 

2

 

Vốn đăng ký

 

triệu USD

 

13,206

 

11,577

 

87,7%

2.1.

   Cấp mới

triệu USD

7,654

10,790

141,0%

2.2.

   Tăng thêm

triệu USD

5,552

787

14,2%

 

3

 

Số dự án

 

 

 

 

 

 

 

 

3.1.

   Cấp mới

dự án

732

658

89.9%

3.2.

   Tăng vốn

lượt dự án

268

143

53.4%

 

4

 

Xuất khẩu

 

 

 

 

 

 

 

 

4.1.

   Kể cả dầu thô

triệu USD

18,930

23,964

126.6%

4.2.

   Không kể dầu thô

triệu USD

14,763

20,651

139.9%

 

5

 

Nhập khẩu

 

triệu USD

 

15,577

 

22,370

 

143.6%

 - Theo địa bàn đầu tư, Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất trong 8 tháng đầu 2010 với 2,23 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Tiếp theo là Quảng Ninh, TP. HCM, Nghệ An với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 2,15 tỷ USD, 1,25 tỷ USD và 1 tỷ USD.

Trong số các dự án cấp mới trong 8 tháng năm 2010, đáng chú ý có các dự án lớn được cấp phép là: Dự án Công ty TNHH điện lực AES-TKV Mông Dương (BOT nhiệt điện Mông Dương 2) xây dựng nhà máy nhiệt điện tại Quảng Ninh với tổng vốn đầu tư là 2,1 tỷ USD; Dự án Công ty Sắt xốp Kobelco Việt Nam sản xuất phôi thép tại Nghệ An với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD; Công ty TNHH Skybridge Dragon Sea của Hoa Kỳ, mục tiêu xây dựng, kinh doanh khu trung tâm hội nghị triển lãm, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư 902,5 triệu USD.

Nhìn chung năm 2010, trong điều kiện khó khăn, phục hồi chậm của kinh tế thế giới, khu vực FDI vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động, phục vụ tốt cho quá trình khôi phục kinh tế của cả nước.

Tuy nhiên, đứng ở tầm cao năm 2010, cũng có thể nhận thấy một số thách thức, khó khăn và yếu kém của khu vực kinh tế FDI trước yêu cầu phát triển bền vững và tái cấu trúc nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. 

Thách thức và yếu kém khu vực FDI năm 2010 

Chất lượng nguồn vốn FDI chưa cao:

Khi nói vốn FDI, người ta thường nhấn mạnh đó là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong tổng nguồn vốn, nhất là trong giai đoạn khởi động nền kinh tế. Tuy nhiên, mấy năm gần đây, một mặt tổng nguồn vốn FDI thực hiện ở Việt Nam đã đạt mức trên 10 tỷ USD (với số vốn bên ngoài chuyển vào trên 8 tỷ USD) là con số lớn, chiếm khoảng ¼ tổng vốn đầu tư cả nước. Nếu so sánh tỷ lệ này với các nước trong vùng, hay với Trung Quốc và các nước khu vực thì đó là tỷ lệ nguồn vốn FDI lớn (chỉ thua Singapore). Tuy nhiên, các nguồn vốn này thường được dành cho đầu tư các dự án thuộc loại “gia công”, cho nên dù tạo ra đến 45% giá trị sản lượng sản phẩm công nghiệp, nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực FDI trong công nghiệp lại chỉ đạt 40% MVA, chưa tạo nên hiệu quả vượt trội tương ứng. 

Góp phần vào việc tăng nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm:  

Các doanh nghiệp FDI đã tạo nên giá trị xuất khẩu lớn (kể hay không kể dầu khí), chiếm trên dưới 50% giá trị xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, nếu xét kỹ, các doanh nghiệp FDI mới tạo ra được nhiều bán thành phẩm (như lắp ráp máy tính, trong mạng lưới sản xuất toàn cầu). Đồng thời, trong điều kiện Việt Nam tham gia WTO và ký các Hiệp định tự do thương mại, các doanh nghiệp FDI ngày càng hướng cả vào thị trường gần 100 dân có thu nhập đang lên của Việt Nam. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp FDI cũng góp phần vào việc tăng nhập siêu, do cơ chế “gia công” còn lớn, tỷ lệ “nội địa hóa” còn thấp, điển hình như công nghiệp ô tô. 

Thực hiện chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý còn ít:

Khi thu hút vốn FDI, nhiều nhà hoạch định chính sách, nhiều ngành và địa phương hy vọng, cùng với tăng nguồn vốn, mở mang thị trường, các doanh nghiệp FDI sẽ tiến hành chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý cho người Việt Nam. Tuy nhiên thành quả trong lĩnh vực này rất khiêm tốn. Do cách thức sản xuất theo công đoạn trong mạng lưới toàn cầu, mà nhà đầu tư còn giữ phần lớn bí quyết công nghệ, nên cán bộ và công nhân Việt Nam vẫn còn rất thụ động. Việc chuyển giao công nghệ rất ít và việc truyền bá kinh nghiệm quản lý cũng gần như không có gì. Đây là vấn đề đòi hỏi nỗ lực của cả các nhà khoa học và quản lý Việt Nam phải vươn lên để học hỏi trong công việc, từng bước vươn lên. Kinh nghiệm trong xây dựng các công trình lớn, khai thác dầu khí, điện, than... đáng để mở rộng, trong khi các kinh nghiệm trong gia công hàng hóa còn  rất khiêm tốn. 

Mở rộng thu hút lao động, nhưng đào tạo người lao động còn chưa tương xứng:

Trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp FDI thu hút khoảng 2 triệu lao động làm việc trực tiếp và hàng triệu lao động trong các khâu gián tiếp khác. Tuy nhiên, có tình trạng thu hút lao động của các doanh nghiệp FDI còn nặng về lao động có giá nhân công rẻ, ít đào tạo, thậm chí dùng cơ chế thử việc để liên tục thay lao động. Có một thực tế là tỷ lệ lao động nữ rất cao trong các doanh nghiệp FDI, nhưng giá nhân công thấp và có thể gây các bệnh nghề nghiệp (như lệch mắt khi chuyên trách kiểm tra chất lượng lắp điện tử tự động của nhà máy sản xuất máy tính và linh kiện điện tử). 

Không ít doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường tự nhiên và khai thác lãng phí tài nguyên thiên nhiên:

Trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp FDI đã chú trọng khai thác nhiều tài nguyên tự nhiên (nhất là tài nguyên không tái tạo như khai thác mỏ khoáng sản), gây tàn phá môi trường tự nhiên. Bài học của doanh nghiệp Vedan cũng chỉ là một ví dụ mới nhất, mà hệ quả chưa nhìn thấy hồi kết. Đó là chưa kể ô nhiễm khí, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm bụi... thậm chí phá hoại đa dạng sinh học cũng cần được quản lý chặt chẽ. 

Về đóng góp tài chính cho ngân sách quốc gia:

Các doanh nghiệp FDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước xét về tổng thể. Tuy nhiên, nếu có tới 50% doanh nghiệp liên tục khai kinh doanh bị lỗ, và phần lớn các liên doanh đã chuyển sang hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài cho thấy có điểm gì đó chưa ổn cần quản lý chặt chẽ hơn. Tình trạng chuyển dự án dễ dàng sau Luật Đầu tư 2005 đã tạo ra kẽ hở để có thể “bán” dự án, làm cho quản lý tài nguyên và đất đai thêm khó khăn. Các dự án địa ốc gần đây cần được theo dõi sát hơn, vì có dự án 4,1 tỷ USD, nhưng vốn tự có (vốn pháp định hay vốn điều lệ)  chỉ 100 triệu USD. Nhiều dự án đã bị các địa phương rút giấy đầu tư cũng có nguyên nhân đầu tư “ảo” rất đáng lo ngại này. 

Còn một số dự án kém chất lượng

Do tình trạng phân cấp dẫn đến chia cắt “cát cứ” và trình độ quản lý, thẩm định dự án chưa tương xứng, nên có địa phương đã thu hút các dự án chưa được chuẩn bị kỹ, hoặc chưa đáng thu hút. Nói cách khác, tình trạng sàng lọc kém các dự án là khá phổ biến.

Tất cả những yếu kém này cần được ghi nhận, theo dõi để có thể có những giải pháp đúng. Điều đó không chỉ lợi cho nước chủ nhà Việt Nam, mà còn có lợi cho cả các nhà đầu tư FDI chân chính, làm ăn đứng đắn. Khi phía Việt Nam biết nói không với các dự án chất lượng kém, thì cũng là lúc chúng ta chuyển mạnh sang hướng chất lượng trên mọi mặt của đời sống kinh tế của giai đoạn tái cấu trúc nền kinh tế, thích hợp với giai đoạn cạnh tranh ngày càng mạnh. 

Định hướng chính sách FDI năm 2011

Bức tranh khu vực FDI năm 2011 phụ thuộc nhiều nhân tố, nhưng trước hết phụ thuộc vào quyết sách tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.  

Tiếp tục xu hướng thu hút mạnh FDI

Có thể thấy rằng trong điều kiện kinh tế thế giới khôi phục chậm, dòng FDI đổ thực vào Việt Nam (cả dự án đã đăng ký và dự án mới) sẽ tiếp tục tăng thêm về quy mô. Đó là xu hướng lành mạnh. Tuy nhiên, cần chú trọng đến chất lượng của nguồn vốn để loại bỏ các dự án đã triển khai lâu mà thiếu hiệu quả hoặc chưa triển khai theo cam kết. Từng bước loại bỏ cách thức thu hút vốn FDI bằng mọi giá, “ganh đua” không lành mạnh giữa các địa phương, trong khi tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh.

Tạo ra sự lan tỏa mạnh và tích cực cuả khu vực FDI trong các lĩnh vực lao động (đào tạo nguồn nhân lực), chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, bảo vệ môi trường...

Trên cơ sở tăng cường năng lực nội sinh của nền kinh tế quốc gia (về khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, thể chế kinh tế hiện đại và cả kết cấu hạ tầng hiện đại,... sẽ thúc đẩy và tận dụng được việc hấp thụ chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý (cả trực tiếp và gián tiếp), thúc đẩy mở mang thị trường cả trong và ngoài nước

Tăng cường quản lý nhà nước, nhất là quản lý của các cấp ngành Trung ương, qua đó tạo chất lượng mới thu hút và sử dụng vốn FDI.

Nhằm khắc phục tình trạng chia cắt trong quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường cần liên kết nhau để nâng cao chất lượng khu vực FDI theo hướng phát triển bền vững, tạo ra cơ chế kinh tế thông thoáng dễ tiên liệu cho các nhà đầu tư trong điều kiện xây dựng cộng đồng kinh tế khu vực và hội nhập quốc tế sâu rộng. 

Làm được như trên, khu vực kinh tế FDI chắc chắn tiếp tục là điểm sáng trong năm 2011, đóng góp tích cực vào quá trình tái cơ cấu kinh tế trong hội nhập.