VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Giải bài toán vốn cho doanh nghiệp ứng phó với đại dịch Covid-19

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Giải bài toán vốn cho doanh nghiệp ứng phó với đại dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 là cú sốc nghiêm trọng trên toàn cầu kể từ sau Thế chiến thứ 2 đến nay. Nền kinh tế Việt Nam có độ mở rất lớn nên chịu ảnh hưởng trực tiếp. Tác động ban đầu của dịch bệnh là một số hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp trong nước phải đóng cửa, những ngành sản xuất có đầu vào phụ thuộc bên ngoài gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động do chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu bị gián đoạn.

Một số lưu ý về hoạt động huy động vốn và cho vay của ngân hàng thương mại

[Video] Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2020

Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Thực trạng và giải pháp cho vay lại vốn ODA

Ngay cả khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát, việc khôi phục lại hoạt động của các doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là bài toán về nguồn vốn. Để thực hiện mục tiêu kép “vừa chống dịch, vừa duy trì tăng trưởng” của Chính phủ, các doanh nghiệp Việt Nam cần xem xét đến bài toán nguồn vốn trong “trạng thái bình thường mới”.

Cơ sở lựa chọn nguồn vốn cho doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp (DN) chủ yếu dựa vào hai nguồn vốn: Nguồn vốn chủ sở hữu (nguồn vốn bên trong DN) và nguồn Nợ phải trả (nguồn vốn từ bên ngoài). Tương ứng với mỗi nguồn vốn có những cách thức huy động vốn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn như sau:

Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, DN huy động theo các phương pháp gồm: (i) Huy động vốn góp ban đầu của các chủ sở hữu, đây là nguồn vốn ban đầu do các chủ sở hữu DN trực tiếp đầu tư khi thành lập DN; Huy động từ lợi nhuận sau thuế: Trong quá trình kinh doanh, DN có thể làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu bằng hình thức tái đầu tư lợi nhuận thu được; (iii) huy động nguồn vốn bổ sung bằng cách kết nạp thêm thành viên, nhà đầu tư mới.

Đối với nguồn vốn Nợ phải trả: Đây là số tiền DN đi chiếm dụng hoặc vay mượn làm vốn kinh doanh, và phải cam kết thanh toán cho các chủ sở hữu đó trong một thời gian nhất định. Các hình thức huy động được áp dụng gồm:

(i) Huy động từ vốn tín dụng ngân hàng: Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể cung cấp vốn tín dụng tương ứng với thời gian và quy mô mà DN có nhu cầu vay dưới các hình thức như vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, vay có đảm bảo (tín chấp, thế chấp), vay trả góp...

(ii) Phát hành trái phiếu;

(iii) Huy động từ vốn tín dụng thương mại: Hình thành trong quan hệ mua bán chịu giữa các DN với nhau;

(iv) Nguồn vốn từ hoạt động cho thuê tài chính, đây là phương thức tài trợ tín dụng trung hạn hay dài hạn không thể huỷ ngang theo đó người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê. Như vậy, người cho thuê nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp, còn người đi thuê ngoài các lợi ích như gia tăng năng lực sản xuất, tiết kiệm thời gian và công sức để hoàn thành thủ tục mua tài sản nếu không đi thuê tài chính, còn giải quyết vấn đề đổi mới công nghệ...

(v) Quỹ đầu tư mạo hiểm: Vốn đầu tư mạo hiểm là khoản đầu tư do những tổ chức chuyên môn hoá thực hiện tới những công ty hoặc DN tăng trưởng cao, rủi ro cao và thường là có công nghệ cao đang cần vốn để tài trợ phát triển sản phẩm hoặc tăng trưởng;

(vi) Nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước;

(vii) Các nguồn chiếm dụng hợp pháp khác như tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền thuế chưa nộp, các khoản thanh toàn khác...

Với cơ cấu nguồn vốn trên, việc huy động vốn của DN dựa chủ yếu vào hai kênh dẫn vốn qua thị trường tiền tệ (với vai trò chủ yếu của NHTM) và thị trường vốn (gồm cả thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu), do đó, sự phát triển của thị trường tài chính được xem là giải pháp thiết yếu hỗ trợ nguồn vốn cho các DN trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 nguồn vốn của DN cần xem xét lại ở cả góc độ cơ cấu, mục tiêu và cách thức huy động vốn.

Do đó, trong giai đoạn hiện nay nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước được xem là kênh huy động hiệu quả nhất thông qua các gói hỗ trợ, kích thích nền kinh tế của Chính phủ và thực tế đây cũng đang là giải pháp mà hầu hết các nước đang thực hiện để giải bài toán nguồn vốn cho DN.

Các chính sách ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn này là: (1) Duy trì hoạt động của DN, hạn chế tối đa tình trạng phá sản; (2) Duy trì việc làm cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp, mất thu nhập. DN vẫn phải tiếp tục trả lương cho người lao động, người dân vẫn phải trả hóa đơn tiền nhà, tiền điện và các sản phẩm dịch vụ thiết yếu khác. Nếu không có sự trợ giúp từ phía Chính phủ thì khi tình trạng đóng cửa nền kinh tế kéo dài có thể dẫn đến một làn sóng vỡ nợ, phá sản và gây thảm họa cho thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, khi dịch bệnh được kiểm soát thì chính sách tiền tệ phải đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp nguồn vốn cần thiết giúp DN phục hồi sản xuất, từ đó kích cầu để tạo động lực cho tổng cung mở rộng, đồng thời, từng bước phục hồi lại kỷ luật tài khóa (vốn được nới lỏng trong thời kỳ dịch bệnh) để đảm bảo sự bền vững của ngân sách trong dài hạn.

Các kênh hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh Covid-19

Thị trường tiền tệ thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng

Ngay khi dịch Covid-19 xuất hiện, Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19.

Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định về tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ.

Ngoài ra, NHNN còn ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020 về các giải pháp cấp bách của ngành Ngân hàng nhằm tăng cường phòng, chống và khắc phục khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19. Kết quả các NHTM đã đăng ký cung ứng với tổng số vốn 300.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn mặt bằng chung từ 0,5%-1% và chủ động xác định tiêu chí giải ngân cho khách hàng.

Các tổ chức tín dụng bước đầu đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho trên 52.000 khách hàng với số tiền gần 18.000 tỷ đồng; thực hiện miễn, giảm lãi cho gần 6.500 khách hàng với dư nợ gần 126.000 tỷ đồng; cho vay mới 165.208 tỷ đồng với 354.286 khách hàng. Dư nợ tập trung chủ yếu ở một số lĩnh vực: Công nghiệp chế biến, chế tạo (60.000 tỷ đồng); bán buôn bán lẻ (43.000 tỷ đồng); nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản (16.000 tỷ đồng) (Thế giới & Việt Nam, 2020).

Tuy nhiên, theo NHNN đến cuối tháng 6/2020 tín dụng mới chỉ tăng 3,26% so với cuối năm 2019, thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây, thậm chí còn chưa bằng một nửa so với mức tăng 7,36% của cùng kỳ năm 2019. Thực tế từ nhiều năm nay, việc tiếp cận nguồn vốn vay tại ngân hàng luôn là “cánh cửa hẹp” đối với các DN vừa và nhỏ, bởi đặc thù thiếu tài sản đảm bảo và các thủ tục thẩm định phức tạp… Ngay cả khi có gói vay ưu đãi dành cho DN bị ảnh hưởng bởi Covid-19 thì hầu hết  DN nhỏ và vừa (DNVVN) vẫn không dễ tiếp cận bởi hàng loạt các ràng buộc về mặt thủ tục, quy trình cho vay phức tạp giữa các ngân hàng với DN…

Trong bối cảnh này, nhằm tạo điều kiện cho các DNNVV vượt qua khó khăn, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu NHNN chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất triển khai giải pháp thử nghiệm cho vay ngang hàng (P2P Lending) để hỗ trợ DN tiếp cận vốn vay. Đây là giải pháp tài chính có khả năng kết nối trực tiếp người vay với các nhà đầu tư một cách nhanh chóng thông qua các nền tảng công nghệ hiện đại. Không những vậy, nhờ cơ sở dữ liệu lớn (Big data) nên các sàn P2P Lending có thể thẩm định năng lực của người vay một cách chuẩn xác với thủ tục đơn giản hơn so với các kênh truyền thống.

Thị trường chứng khoán

Theo báo cáo từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đến hết tháng 9/2020, huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng cải thiện không đáng kể (hơn 200.000 tỷ đồng, tăng 1,43% so với cùng kỳ).

Đáng chú ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, huy động vốn qua phát hành cổ phiếu và cổ phần hóa giảm 79% (9.043 tỷ đồng), trong đó, cổ phần hóa và thoái vốn giảm 75% so với cuối năm 2019. Trái ngược với thị trường cổ phiếu, huy động vốn qua phát hành trái phiếu tăng mạnh, lượng trái phiếu chào bán ra thị trường trong 9 tháng đầu năm 2020 đã tăng cao hơn quy mô phát hành của cả năm 2019.

Phát hành cổ phiếu

Hoạt động phát hành cổ phiếu nhằm huy động vốn góp từ cổ đông gặp khó khăn trong nửa đầu năm 2020 và có sự cải thiện vào quý III/2020 khi dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, dòng vốn ngoại tại thị trường trong nước có dấu hiệu thu hẹp. Từ đầu năm 2020, nhà đầu tư nước ngoài liên tục duy trì trạng thái bán ròng với tổng giá trị bán ròng hơn 88.000 tỷ đồng (tính đến ngày 28/9/2020).

Cùng với đó, nguồn vốn nước ngoài mới gặp trở ngại khi hoạt động nghiên cứu phân tích trực tiếp tại thị trường Việt Nam bị hạn chế do các quy định về giãn cách xã hội và nhập cảnh đối với người nước ngoài. Nhiều kế hoạch chào bán cổ phiếu cho đối tác chiến lược đã không thể triển khai, một số đợt phát hành chứng khoán lớn của DN Việt Nam tại thị trường quốc tế không thực hiện được.

Trước động thái rút vốn khỏi thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, nhiều ngân hàng trong nước đã lên kế hoạch điều chỉnh giảm tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài xuống dưới 30% nhằm tìm kiếm đối tác chiến lược phù hơn hơn. Biện pháp này giúp các ngân hàng có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngoại mới mang tính ổn định hơn. 

Về phía tổ chức phát hành, do ảnh hưởng của đại dịch, DN kinh doanh thua lỗ khiến phương án huy động vốn được xây dựng từ trước không còn khả thi. Giai đoạn dịch bùng phát trong nước trùng với thời điểm nhiều DN lên kế hoạch tổ chức đại hội đồng cổ đông. Kế hoạch bị trì hoãn do dịch bệnh khiến việc triệu tập đại hội cổ đông, xin ý kiến phát hành và hoàn thiện thủ tục nộp hồ sơ xin phép phát hành bị chậm trễ.

Bên cạnh giải pháp xin hoãn họp đại hội cổ đông, nhiều DN đã ứng dụng công nghệ hiện đại, tổ chức họp đại hội cổ đông trực tuyến, lấy ý kiến bằng phiếu điện tử để thông qua phương án kinh doanh, chi trả cổ tức và huy động vốn. Khâu hoàn thiện thủ tục được DN thực hiện và lựa chọn thời điểm thuận lợi để nộp hồ sơ xin phép phát hành thêm.

Phương thức phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu (thưởng cổ phiếu) được DN ưa chuộng trong giai đoạn này thay vì phát hành thêm cổ phiếu theo quyền mua ưu đãi. Đối với DN có lợi nhuận trong năm nay, chi trả cổ tức chủ yếu bằng tiền mặt. Cách làm này đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của cổ đông và lợi ích của DN trong bối cảnh khủng hoảng.

Về phía cơ quan quản lý, UBCKNN đã kịp thời đưa ra các giải pháp, chính sách ứng phó với tác động của dịch bệnh đối với ngành Chứng khoán nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Thông tư số 14/2020/TT-BTC điều chỉnh giá dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán nhằm điều chỉnh giảm chi phí hỗ trợ cho các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường; Thực hiện cắt giảm các thủ tục hành chính; Hướng dẫn DN họp đại hội đồng cổ đông trực tuyến…

Cùng với đó là một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý hoạt động phát hành chứng khoán được đẩy mạnh như: Thúc đẩy hoạt động cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước; Tăng cường kiểm tra giám sát đối với hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn huy động trên thị trường chứng khoán; Xử lý kịp thời các trường hợp tăng vốn ảo, sử dụng vốn sai mục đích. UBCKNN cũng đang nhanh chóng hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán 2019, trong đó hướng dẫn về tỷ lệ sở hữu nước ngoài đang được các DN quan tâm.

Phát hành trái phiếu

Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu DN đang được các DN quan tâm, khi mà nhà đầu tư có xu hướng tìm kiếm các kênh đầu tư an toàn như trái phiếu DN, trái phiếu chính phủ thay vì cổ phiếu. Điều này cũng lý giải nguyên nhân thị trường trái phiếu DN có sự tăng trưởng tốt trong suốt giai đoạn quý II quý III/2020.

Tổng lượng trái phiếu DN phát hành trong 9 tháng đầu năm 2020 đạt 341 nghìn tỷ đồng, tăng 79% so với cùng kỳ năm 2019, trái phiếu phát hành riêng lẻ chiếm tới 94% tổng phát hành. Xét về cơ cấu phát hành, đứng đầu là DN bất động sản chiếm 40,3%, ngân hàng chiếm 28% tổng lượng phát hành (UBCKNN, 2020).

Ngân hàng là nhóm DN có nhu cầu huy động vốn lớn nhằm đảm bảo các quy định về tỷ lệ an toàn vốn trong hệ thống. Kể từ tháng 4/2020, lượng trái phiếu phát hành của các ngân hàng tăng nhanh chóng (lượng trái phiếu phát hành trong tháng 4/2020 tăng gấp 10 lần so với lượng trái phiếu phát hành trong 3 tháng trước đó). Không chỉ phát hành trái phiếu trong nước, các ngân hàng còn lên phương án phát hành trái phiếu cho các nhà đầu tư tại thị trường quốc tế, hướng tới các dòng vốn ngoại trong năm nay.

 Phát hành trái phiếu tương đối dễ dàng do DN không cần tài sản thế chấp hay bị giám sát về dòng tiền, hồ sơ xin phép phát hành đơn giản với lượng vốn huy động lớn. Bởi vậy, trái phiếu DN luôn tiềm ẩn những rủi ro về thanh toán khi DN phát hành hoạt động không hiệu quả. Nghị định số 81/2020/NĐ-CP (sửa đổi quy định về điều kiện phát hành trái phiếu) có hiệu lực vào ngày 1/9/2020 buộc nhà đầu tư, cũng như DN phát hành trái phiếu phải chuyên nghiệp hơn.

Nhìn chung, kênh huy động vốn trên thị trường chứng khoán cũng chịu tác động mạnh mẽ bởi dịch bệnh Covid-19. DN gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh dẫn tới những khó khăn trong vấn đề huy động vốn góp từ cổ đông hay tìm kiếm các đối tác chiến lược nước ngoài. Hoạt động phát hành trái phiếu tuy dễ dàng hơn cho DN song các quy định nhằm hạn chế rủi ro cho các trái chủ khiến nhiều DN phải cân nhắc cẩn thận trước khi ra quyết định. Do đó, DN cần có biện pháp huy động vốn linh hoạt phù hợp với điều kiện của thị trường.

Một số vấn đề đặt ra

Thứ nhất, hoạt động của các tổ chức tín dụng phụ thuộc vào dòng vốn cho vay ra và dòng vốn trả trở lại của các DN. Trong thời kỳ dịch bệnh, các DN sẽ gặp khó khăn để có thể duy trì dòng vốn trả lại cho các tổ chức tín dụng trong ngắn hạn. Ngay cả khi dịch bệnh được kiểm soát, các DN cũng cần có thời gian để phục hồi lại khả năng trả nợ. Trong khoảng thời gian này, một số tổ chức tín dụng có thể bị thiếu thanh khoản do dòng vốn trở về bị ách tắc. NHNN cần sẵn sàng cung ứng thanh khoản kịp thời cho các tổ chức tín dụng. Khi các hoạt động sản xuất-kinh doanh được phục hồi thì NHNN rút lại các nguồn vốn trên để kiểm soát lạm phát.

Thứ hai, khi vận dụng chính sách tiền tệ để ứng phó với dịch bệnh là nới lỏng các quy định an toàn của hệ thống tài chính để tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế (điều chỉnh về phân loại nợ, tỷ lệ an toàn vốn, các điều kiện cho vay…). Tuy nhiên, điều này sẽ làm suy yếu hệ thống ngân hàng, rủi ro hệ thống gia tăng, nợ xấu tăng và một vài ngân hàng yếu kém dễ dàng rơi vào tình trạng phá sản khi các DN vay nợ mất khả năng trả nợ, từ đó đẩy toàn bộ hệ thống vào nguy hiểm.

Thêm vào đó, những diễn biến xấu của dịch bệnh có thể làm cho hàng loạt DN lâm vào khó khăn và nợ xấu trên bảng cân đối của các tổ chức tín dụng tăng nhanh, khiến cho các ngân hàng mất khả năng thanh khoản và gây khủng hoảng hệ thống. Do đó, để đảm bảo khả năng phục hồi của nền kinh tế, việc duy trì một hệ thống các tổ chức tín dụng lành mạnh là yêu cầu tiên quyết. Nói cách khác, trong thời kỳ dịch bệnh, các tổ chức tín dụng là những DN cần được đặc biệt bảo vệ.

Thứ ba, báo cáo kết quả kinh doanh quý III/2020 của nhiều DN cho thấy, mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh Covid-19 lên hoat động sản xuất kinh doanh. Trong số đó, hàng không, bất động sản, dịch vụ là những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Do vậy, DN cần linh hoạt sử dụng các hình thức tăng vốn thông qua phát hành thêm cổ phiếu, đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà đầu tư và mục đích huy động vốn góp.

Thứ tư, đối với thị trường trái phiếu, những giải pháp được đưa ra trong Nghị định số 81/2020-NĐ-CP ngày 9/7/2020 là chưa đủ để phát triển thị trường trái phiếu bền vững, trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho DN trong nước. Theo đó, phát triển thị trường thứ cấp trái phiếu DN là cần thiết nhằm tăng tính thanh khoản cũng như thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức tham gia thị trường. Thêm vào đó, cơ quan quản lý cần có biện pháp khuyến khích hoạt động xếp hạng tín nhiệm trái phiếu DN.    

Tài liệu tham khảo:

Thế giới và Việt Nam (2020), “Tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam hậu Covid-19”, https://baoquocte.vn/tin-dung-ho-tro-doanh-nghiep-hau-covid-19-tien-da-co-tieu-sao-cho-dung-114654.html;

“Tình hình thực hiện các chính sách, giải pháp hỗ trợ DN ứng phó với covid 19”, https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/597/5099/tinh-hinh-thuc-hien-cac-chinh-sach--giai-phap-ho-tro-doanh-nghiep-ung-pho-voi-dich-covid-19.aspx;

“Ảnh hưởng của dịch Covid-19 và vai trò của chính sách tiền tệ”, https://tinnhanhchungkhoan.vn/anh-huong-cua-dich-covid-19-va-vai-tro-cua-chinh-sach-tien-te-post240678.html;

“Trái phiếu doanh nghiệp đã thực sự trở thành một phương thức huy động vốn hiệu quả”, https://thitruongtaichinhtiente.vn/trai-phieu-doanh-nghiep-da-thuc-su-tro-thanh-mot-phuong-thuc-huy-dong-von-hieu-qua-28561.html.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM