VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với mô tô, xe máy là cần thiết và đúng quy định pháp luật

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với mô tô, xe máy là cần thiết và đúng quy định pháp luật

Bộ Tài chính khẳng định, việc quy định mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS) bắt buộc đối với mô tô, xe máy là cần thiết và đúng quy định pháp luật, đáp ứng nhu cầu thực tiễn nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội chung, phù hợp với xu thế chung trên thế giới.

Lưu trữ dữ liệu về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới an toàn, bảo mật

Phối hợp triển khai hiệu quả quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

Doanh nghiệp triển khai bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới có nghĩa vụ gì?

Doanh nghiệp triển khai bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới phải gửi báo cáo về Bộ Tài chính

Giảm trừ tới 5% tiền bồi thường nếu chủ xe cơ giới không thông báo tai nạn

Gửi kiến nghị tới Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, cử tri tỉnh Hà Giang đề nghị Bộ Tài chính xem xét bãi bỏ quy định mua bảo hiểm TNDS bắt buộc đối với mô tô, xe máy. Theo cử tri tỉnh Hà Giang, hiện nay loại hình bắt buộc này không phát huy được vai trò, mục đích của việc đảm bảo quyền lợi, khi có tai nạn xảy ra, thủ tục bồi thường quá phức tạp và gây khó khăn cho người thụ hưởng.

Ngày 22/9/2021, Bộ Tài chính đã có Công văn số 10946/BTC-QLBH trả lời kiến nghị của cử tri Hà Giang. Cụ thể, Bộ Tài chính khẳng định, việc quy định mua bảo hiểm TNDS bắt buộc đối với mô tô, xe máy là cần thiết và đúng quy định pháp luật, đáp ứng nhu cầu thực tiễn nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội chung, phù hợp với xu thế chung trên thế giới. Về cơ sở pháp lý, việc mua bảo hiểm TNDS bắt buộc đối với chủ xe mô tô, xe máy được căn cứ vào quy định của Luật Kinh doanh Bảo hiểm và Luật Giao thông đường bộ.

Bộ Tài chính dẫn chứng, tại Khoản 1 Điều 8 Luật Kinh doanh Bảo hiểm quy định, bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện. Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội chung. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Luật Kinh doanh Bảo hiểm, bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới là 1 trong số 4 loại bảo hiểm bắt buộc.

Theo số liệu thống kê, số tiền bồi thường bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới từ năm 2017 đến năm 2020 là 3.440 tỷ đồng.

Đồng thời, theo quy định tại Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ, xe cơ giới gồm xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh, xe gắn máy (kể cả xe máy điện)... Theo quy định tại Khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ, người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới.

Về căn cứ thực tiễn, theo số liệu thống kê, số vụ tai nạn giao thông do mô tô 02 bánh, xe gắn máy, xe máy chiếm tỷ trọng khoảng 70% trong tổng số vụ tai nạn giao thông đường bộ. Hậu quả tai nạn giao thông đã gây thiệt hại không chỉ đối với nạn nhân (về sức khỏe, tính mạng, tài sản) mà còn đối với cả chủ xe (chi trả bồi thường, thiệt hại về gián đoạn kinh doanh, chi phí pháp lý...), gây ảnh hưởng chung đến toàn xã hội.

Do đó, nhằm phát huy vai trò, ý nghĩa xã hội và tính chất nhân đạo của bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới, từ năm 1988, Chính phủ cũng đã quy định loại hình bảo hiểm này là loại hình bảo hiểm bắt buộc và lần lượt ban hành Nghị định số 30/HĐBT ngày 10/3/1988, Nghị định số 115/1997/NĐ-CP ngày 17/12/1997, Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008 và gần đây nhất là Nghị định số 03/2001/NĐ-CP.

Bộ Tài chính cho biết thêm, tại các nước trên thế giới, xuất phát từ lợi ích chung của xã hội cũng như của từng thành viên trong cộng đồng, bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới (bao gồm xe mô tô, xe máy) được quy định đầu tiên tại Anh quốc năm 1930, theo sau tại Đức năm 1939 và hiện nay được triển khai tại hầu hết các nước trên thế giới.

Trên thế giới, bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới được đánh giá là một trong số các giải pháp hữu hiệu hỗ trợ tài chính giúp cho chủ xe và người bị tai nạn khắc phục thiệt hại nhanh chóng ổn định cuộc sống khi không may xảy ra tai nạn giao thông, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tế thực hiện thời gian qua, nhằm cắt giảm thủ tục, tăng cường công tác tạm ứng bồi thường, giải quyết bồi thường bảo hiểm và tạo thuận lợi về thực hiện bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới; bao gồm cả xe mô tô 02 bánh, xe gắn máy cho người dân, ngày 15/1/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 03/2001/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới, thay thế Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008 của Chính phủ.

Nghị định số 03/2001/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, cụ thể: 

Thứ nhất, tăng cường công tác tạm ứng bồi thường

Nghị định số 03/2021/NĐ-CP quy định rõ trong mọi trường hợp, trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về vụ tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng bồi thường đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng (theo quy định cũ, chỉ trong trường hợp cần thiết doanh nghiệp bảo hiểm mới phải tạm ứng bồi thường).

Nghị định số 03/2021/NĐ-CP cũng quy định cụ thể mức tạm ứng bồi thường, lên đến 70% mức bồi thường bảo hiểm theo quy định/1 người/1 vụ đối với trường hợp tử vong; 50% mức bồi thường bảo hiểm theo quy định/1 người/1 vụ đối với trường hợp tổn thương bộ phận trường hợp đã xác định được vụ tai nạn thuộc phạm vi bồi thường thiệt hại: được điều trị cấp cứu (theo quy định cũ, chỉ tạm ứng những chi phí cần thiết và hợp nhằm khắc phục hậu quả tai nạn).

Thứ hai, cắt giảm hồ sơ bồi thường, đẩy mạnh công tác giải quyết bồi thường

Nghị định số 03/2021/NĐ-CP đã cắt giảm hồ sơ, tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong giải quyết bồi thường bảo hiểm. Trong đó, cắt giảm 2 trong 5 tài liệu chứng minh thiệt hại về sức khỏe, tính mạng so với quy định trước đây (chỉ còn Giấy chứng thường, Hồ sơ bệnh án, Giấy chứng tử trường hợp nạn nhân tử vong).

Quy định doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải thu thập các tài liệu này trong các vụ tai nạn gây tử vong đối với bên thứ ba và hành khách theo quy định cũ trong mọi trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểm phải thu thập các tài liệu này).

Bổ sung quy định biên bản giám định xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất do doanh nghiệp bảo hiểm lập được thống nhất giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm. Quy định này ngoài việc cắt giảm hồ sơ, tài liệu, rút ngắn thời gian giải quyết bồi thường còn tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm.

Ngoài ra, để đẩy nhanh tiến độ giải quyết bồi thường, bổ sung quy định trách nhiệm của Bộ Công an chỉ đạo các lực lượng Cảnh sát cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến các vụ tai nạn giao thông trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả điều tra.

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới

Nghị định số 03/2021/NĐ-CP đã bổ sung nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm thực hiện bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới (từ lúc giao kết, thực hiện cho đến khi không may xảy ra tai nạn). 

Theo Nghị định số 03/2021/NĐ-CP, nghĩa vụ thiết lập, duy trì hoạt động 24giờ/7ngày đường dây nóng để kịp thời tiếp nhận thông tin tai nạn, hướng dẫn, giải đáp cho bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và các bên có liên quan. 

Tích hợp tính năng tra cứu Giấy chứng nhận bảo hiểm trên trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử của doanh nghiệp bảo hiểm cho phép cơ quan hữu quan và bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm tra cứu, xác minh thời hạn và hiệu lực bảo hiểm của Giấy chứng nhận bảo hiểm.

Khi nhận được thông báo về tai nạn, trong vòng 01 giờ đồng hồ doanh nghiệp bảo hiểm phải hướng dẫn bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, chủ xe cơ giới các biện pháp đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại về người và tài sản, hướng dẫn hồ sơ, thủ tục yêu cầu bồi thường bảo hiểm; trong vòng 24 giờ đồng hồ tổ chức thực hiện việc giám định tổn thất xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất làm căn cứ giải quyết bồi thường bảo hiểm.

Đồng thời, phải giải thích rõ quy tắc, điều khoản và biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, đảm bảo bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm phân biệt rõ giữa loại hình bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với các loại hình bảo hiểm tự nguyện khác.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM