VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về FDI ở Việt Nam

Ảnh minh hoạ. Nguồn: internet

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về FDI ở Việt Nam

Trong công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam, nguồn vốn FDI (FDI) có vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, bên cạnh những tác động tích cực, thì vẫn tồn tại những ảnh hưởng tiêu cực của FDI đối với quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Do đó, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về FDI ở Việt Nam là rất cần thiết.

Dịch COVID-19 khiến dòng vốn FDI chậm lại, nhưng không có xu hướng rời khỏi Việt Nam

Ðiều chỉnh thu hút FDI phù hợp thực tiễn

Doanh nghiệp FDI ở Việt Nam và chuỗi giá trị toàn cầu

[Infographics] Vốn FDI vào Việt Nam 7 tháng đầu năm đạt 16,7 tỷ USD

Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI

Thực tiễn trong quá trình nghiên cứu về FDI, tác giả nhận thấy, hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI thể hiện thông qua hiệu quả FDI. Tham khảo nghiên cứu của các tác giả Ngô Doãn Vịnh (2005), Ngô Thúy Quỳnh (2019) cùng với quan sát thực tiễn, tác giả cho rằng, để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI, cần sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu như sau:

Nhóm thứ nhất: Phân tích và đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả của bản thân khu vực FDI

Chỉ tiêu 1: Năng suất lao động của khu vực FDI (hay nói cách khác là hiệu suất sử dụng một lao động của khu vực FDI) hoặc thu nhập bình quân 1 lao động.

Chỉ tiêu 2: Tỷ suất lợi nhuận trước hoặc sau thuế.

Nhóm thứ hai: Đánh giá đóng góp của khu vực FDI cho nền kinh tế quốc gia

Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế.

Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ độ đóng góp của khu vực FDI vào độ mở của nền kinh tế, hay đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của quốc gia.

Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào thu ngân sách nhà nước.

Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tạo việc làm cho người lao động.

Ngoài những chỉ tiêu chính như trên, nếu thu thập và tính toán được số liệu khác, thì có thể tính thêm cả mức độ đóng góp vào hiện đại hóa nền kinh tế (thông qua chỉ tiêu tỷ trọng của lĩnh vực công nghệ cao chiếm trong tổng GDP), số người được nuôi sống do lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI…

Thực trạng hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI ở Việt Nam

Khái quát tình hình phát triển kinh tế Việt Nam

Tình hình phát triển kinh tế Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý đề cập, tuy nhiên, chưa có công trình nào trình bày thỏa đáng để phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy, ngoại trừ năm 2020 bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, thì những năm qua, Việt Nam có bước phát triển tương đối khá, luôn đứng trong nhóm các quốc gia có tốc độ phát triển nhanh, vị thế trên trường quốc tế ngày càng cao; đời sống người dân được cải thiện.

Trong giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt trung bình 5,95%/năm. Trong khi đó, khu vực FDI có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, khoảng 8,4% giai đoạn 2011-2015 lên khoảng 10,9% giai đoạn 2016-2020 (Bảng 1). Năm 2020, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 70,6 triệu đồng (Bảng 2), còn thấp và thua khá xa so nhóm đầu của ASEAN.

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế Việt Nam qua các giai đoạn

Đơn vị: %

Khu vực kinh tế

2011-2015

2016-2020

Kinh tế nhà nước

4,9

4,3

Kinh tế tư nhân trong nước

6,1

6,8

Kinh tế có vốn FDI

8,4

10,9

Nguồn: Tác giả xử lý theo số liệu của Tổng cục Thống kê; năm 2020 là số ước

Bảng 2: Một số chỉ tiêu về kinh tế của Việt Nam

Chỉ tiêu

Đơn vị

2010

2015

2019

Ước 2020

1. Dân số

Nghìn người

86.947

91.709

96.484

97.497

Lao động xã hội

Nghìn người

50.392

53.984

54.659

55.280

2. GDP, giá hiện hành

Nghìn tỷ đồng

2.157,8

4.192,4

6.037,3

6.885,0

GDP, giá năm 2010

Nghìn tỷ đồng

2.157,8

2.875,8

3.738,5

3.846,9

Trong đó theo lĩnh vực:

- Kinh tế nhà nước

Nghìn tỷ đồng

633,2

806,4

947,2

1.019

% so tổng GDP giá năm 2010

%

29,3

28,0

26,2

26,5

- Kinh tế có vốn FDI

Nghìn tỷ đồng

326,9

489,8

732,6

805

% so tổng GDP giá năm 2010

%

15,1

17,1

19,6

20,8

- Kinh tế tư nhân trong nước

Nghìn tỷ đồng

926,9

1.250

1.637

1.569

% so tổng GDP giá năm 2010

%

42,95

43,5

43,8

41,5

3. GDP bình quân đầu người, giá hiện hành

Triệu đồng

24,7

45,7

62,6

70,6

GDP bình quân đầu người, giá năm 2010

Triệu đồng

24,7

24,9

38,7

39,5

Năng suất lao động, giá hiện hành

Triệu đồng

42,8

78,9

110,5

124,5

Năng suất lao động giá năm 2010

Triệu đồng

42,8

52,3

68,4

69,6

Nguồn: Tác giả xử lý theo số liệu của Tổng cục Thống kê; năm 2020 là số ước

Theo Tổng cục Thống kê (2020), năm 2019, về quy mô nền kinh tế, Việt Nam bằng 48,5% của Thái Lan, 23,5% của Indonesia, 67,3% của Singapore, 68,4% Malaysia. Còn GDP bình quân đầu người của Việt Nam bằng 35,3% của Thái Lan, 66% của Indonesia, 3,8% của Singapore, 22,6% Malaysia. Năng suất lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp. Nếu tính theo giá sức mua tương đương, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,3% năng suất lao động của Singapore; 19% của Malaysia; 37% của Thái Lan; 44,8% của Indonesia và bằng 55,9% của Philippines.

Tốc độ tăng GDP bình quân đầu người khoảng trên 5%/năm và năng suất lao động tăng trung bình khoảng 5,4%/năm trong cả thời kỳ 2011-2020. Đó là mức tăng khá, nhưng do xuất phát điểm thấp, nên GDP bình quân đầu người của Việt Nam đang còn thấp và thua một số nước trong khu vực ASEAN.

Tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam

Trong suốt thời kỳ từ năm 1988 đến năm 2019, vốn FDI thu hút vào Việt Nam đã thực hiện trung bình được khoảng hơn 7 tỷ USD/năm, bình quân khoảng 2,2 triệu USD/người dân. Trong đó, giai đoạn 2011-2019 thu hút được nhiều dự án và tổng vốn đăng ký FDI nhất (Bảng 3).

Bảng 3: Kết quả thu hút vốn FDI của Việt Nam qua các thời kỳ

Giai đoạn

Số dự án

Tổng vốn đăng ký (Triệu USD)

Tổng vốn thực hiện (Triệu USD)

Tổng số

33.921

454.019,0

211.472,9

1988-1999

3.164

42.729,3

18.269,5

2000-2010

10.473

171.643,3

60.876,7

2011-2019

20.495

239.646,4

132.326,7

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2020)

Cũng trong giai đoạn 1988-2019, vốn FDI thực hiện bằng khoảng 47% vốn đăng ký. Đây là mức thấp và chưa được như mong đợi. Điều đáng nói là, vốn FDI đến từ các nước có công nghệ trung bình và không nắm giữ công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn, trong khi nguồn vốn từ các nước phát triển hàng đầu thế giới chưa thật sự hiệu quả: vốn FDI từ Mỹ chỉ được 2,7%, từ Đức khoảng 0,6%, từ Anh được khoảng 1%, từ Pháp khoảng 0,9%, còn chủ yếu đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc (35%) (Bảng 4).

Bảng 4: FDI vào Việt Nam theo đối tác (lũy kế đến 31/12/2019)

Quốc gia có đầu tư FDI vào Việt Nam

Tổng vốn đăng ký (Triệu USD)

% so tổng số (%)

Tổng vốn FDI

363.309,7

100,0

Hàn Quốc

68.102,3

18,7

Nhật Bản

59.364,2

16,3

Singapore

49.772,4

13,7

Đài Loan

32.378,4

8,9

Trung Quốc đại lục

16.284,4

4,5

Thái Lan

10.908,3

3,0

Mỹ

9.307,5

2,7

Anh

3.716,9

1,0

Pháp

3.604,2

0,9

Đức

2.054,4

0,6

Nga

942,5

0,3

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2020)

Nếu không chọn lọc, chỉ thu hút vốn FDI từ các quốc gia không nắm giữ công nghệ cao, thì Việt Nam sẽ không có công nghệ cao và chỉ thu hút vốn FDI vào lĩnh vực thương mại và lĩnh vực chỉ có công nghệ trung bình.

Đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI

Như đã trình bày, hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI thể hiện qua hiệu quả hoạt động khu vực FDI. Với tình hình số liệu có được và theo các chỉ tiêu đã xác định, tác giả đánh giá hiệu quả khu vực FDI trong giai đoạn 2011-2020. Số liệu ở Bảng 2 cho thấy, khu vực FDI ngày càng đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, chiếm khoảng hơn 15,1% GDP năm 2010 và tăng lên 20,8% GDP năm 2020. Bảng 5 cho biết thêm, khu vực FDI đóng góp khoảng 11%-13% thu ngân sách nhà nước.

Đến năm 2020, lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn FDI vào khoảng 6,1 triệu người, chiếm khoảng 11% lao động xã hội của Việt Nam. Năng suất lao động của khu vực FDI đạt mức khoảng 124 triệu đồng (giá năm 2010), đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,7%/năm, cao hơn nhiều so với năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp trong nước (Giang Vi, 2020). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020), thu nhập trung bình 1 lao động của khu vực doanh nghiệp FDI đạt khoảng 11,2 triệu đồng/tháng, cao hơn mức trung bình của nền kinh tế khoảng 1,2 lần.

Đối với thu ngân sách nhà nước, thì thu trong nước chiếm tỷ trọng lớn, chủ yếu, từ khoảng 64,8% năm 2010 lên khoảng 82,1% năm 2020. Thu từ doanh nghiệp có vốn FDI cũng ngày càng tăng, từ khoảng 10,8% năm 2010 tăng lên khoảng 14,6% năm 2020 (Bảng 5). Đó là xu thế tốt, song vẫn chưa tương xứng với tiềm lực thực tế của khu vực FDI.

Bảng 5: Một số chỉ tiêu về đóng góp của FDI cho thu ngân sách nhà nước và xuất khẩu của Việt Nam

Chỉ tiêu

Đơn vị

2010

2015

2019

Ước 2020

1. Thu ngân sách nhà nước, giá hiện hành

Nghìn tỷ đồng

599,9

1.020,5

1.551,1

1.645

% so GDP

%

27,8

24,3

25,7

23,9

- Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn FDI

Nghìn tỷ đồng

64,9

141

210,2

240,0

% so tổng thu ngân sách nhà nước

%

10,8

13,9

13,6

14,6

2. Tổng giá trị xuất khẩu

Tỷ USD

72,2

162,0

264,2

254,9

- Riêng của khu vực FDI

Tỷ USD

39,1

114,4

179,2

181,7

% so tổng số

%

54,2

70,6

67,8

71,3

Nguồn: Tác giả xử lý theo số liệu của Tổng cục thống kê; năm 2020 là số ước

Trong lĩnh vực xuất khẩu, khu vực FDI góp phần quan trọng, từ mức chiếm khoảng 54,2% năm 2010 tăng lên khoảng 70,6% năm 2015 và trên 71% năm 2020. Như vậy, khu vực FDI có đóng góp lớn vào gia tăng độ mở của nền kinh tế.

Chi đầu tư phát triển của khu vực FDI có sự tăng về giá trị, nhưng giảm về tỷ trọng (Bảng 6). So với các khu vực kinh tế khác, thì khu vực FDI có đóng góp thấp nhất vào chi đầu tư phát triển.

Bảng 6: Một số chỉ tiêu về đầu tư phát triển của Việt Nam

Chỉ tiêu

2011-2015

Ước 2016-2020

Nghìn tỷ đồng

%

Nghìn tỷ đồng

%

Đầu tư phát triển (giá năm 2010)

4.686

100

6.418

100

Trong đó:

+ Khu vực kinh tế nhà nước

1.783

38,0

2.175,7

33,9

+ Khu vực tư nhân trong nước

1.758

37,5

2.759,7

43,0

+ Khu vực có vốn FDI

1.144

24,4

1.482,6

23,1

Nguồn: Tác giả xử lý theo số liệu của Tổng cục Thống kê; năm 2020 là số ước

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020), trong suốt thời kỳ 2011-2018, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp FDI đạt trung bình khoảng 6,2%, trong khi mức trung bình doanh nghiệp của cả nước chỉ đạt trung bình khoảng 3,85%. Tuy nhiên, do chưa tính toán được thất thoát do chuyển giá của nhiều doanh nghiệp FDI, nên thực chất hiệu quả của khu vực FDI chưa thể được khẳng định.

Nhìn chung, quản lý nhà nước về doanh nghiệp FDI trong thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu. Tuy vậy, hoạt động này cũng đang bộc lộ một số hạn chế và bất cập. Cụ thể, việc cam kết giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp FDI chưa thật sự chặt chẽ. Vẫn thiếu vắng các dự án FDI có quy mô vốn lớn, công nghệ cao. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Hơn nữa, việc liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI còn lỏng lẻo. Năng lực của doanh nghiệp trong nước còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp FDI...

Kiến nghị giải pháp

Để nâng cao hiệu quả thu hút FDI, hay nói cách khác là hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI trong những năm tới, tác giả kiến nghị thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:

Một là, hoàn thiện chính sách để thu hút vốn FDI theo hướng hình thành các lĩnh vực mũi nhọn, các sản phẩm chủ lực của Việt Nam

Trong bối cảnh mới (tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; thay đổi của các dòng FDI trên thế giới...), nhiều quốc gia có sự thay đổi chủ trương và chuẩn bị điều kiện để thu hút FDI, do đó Việt Nam cần đổi mới mạnh mẽ, cam kết về điều kiện thuận lợi, về khả năng thu được lợi nhuận, an toàn, an ninh trong dài hạn cho nhà đầu tư nước ngoài. Trước hết cần:

(i) Cam kết mạnh mẽ song hành cùng nhà đầu tư nước ngoài, tạo thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài làm ăn có hiệu quả lâu dài và ổn định. Theo lý thuyết, lợi nhuận là đòi hỏi hàng đầu đối với các nhà đầu tư nói chung, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài. Vì thế, cần cam kết rằng, nếu đến Việt Nam làm ăn, thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ thu được lợi nhuận ổn định trong thời gian dài.

Cần đặt mục tiêu đẩy mạnh thu hút vốn FDI để đảm bảo vốn FDI chiếm khoảng 25%-27% vốn đầu tư xã hội của Việt Nam. Mỗi năm, phấn đấu thu hút khoảng 20 tỷ USD và nâng tỷ lệ vốn thực hiện khoảng 70%-75% số vốn đăng ký này.

Mặt khác, đẩy mạnh thu hút các dự án FDI có quy mô vốn lớn, nắm giữ công nghệ cao đến từ các nước phát triển hàng đầu trên thế giới, nhất là Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga để phát triển mạnh hơn nữa ngành công nghiệp có nhiều giá trị gia tăng và có khả năng xuất khẩu lớn. Đồng thời, làm cơ sở thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp trong nước để tạo nên các chuỗi giá trị ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

(ii) Gia tăng thu hút vốn FDI để hình thành các lĩnh vực mũi nhọn và các sản phẩm chủ lực của Việt Nam trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh với các nước trong khu vực Đông Nam Á, bao gồm các lĩnh vực tự động hóa, cơ điện tử, máy móc phục vụ sản xuất hàng hóa – điện – vận tải, viễn thông, thuốc chữa bệnh, vận tải biển, logistics, chữa bệnh, du lịch. Không nên thu hút những dự án có công nghệ trung bình trở xuống và không thu hút những dự án FDI chiếm nhiều đất, tiêu tốn nhiều điện, có nguy cơ lớn gây ô nhiễm môi trường.

Hai là, tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi, ổn định, an ninh, an toàn

Có chính sách hấp dẫn, trong đó hỗ trợ giảm hoặc miễn tiền thuê đất, giảm thuế nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu và các nhà đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ khi vào Việt Nam làm ăn. Đồng thời, cũng nên có chính sách hạn chế đến mức tối thiểu tình trạng chuyển giá và khai báo “lỗ giả, lãi thật” gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam.

Mặt khác, việc khuyến khích và hạn chế phải rõ ràng. Bên cạnh chính sách mang tính khuyến khích, Việt Nam cũng cần có chính sách hạn chế những dự án chỉ có công nghệ trung bình, sử dụng nhiều đất và tiêu tốn nhiều điện lại có nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Ba là, Nhà nước phối hợp với các nhà đầu tư nước ngoài đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển

Ngay từ khi bắt đầu triển khai dự án FDI, chính quyền các địa phương phải phối hợp với các nhà đầu tư nước ngoài để triển khai đào tạo nhân lực đúng như yêu cầu của họ. Trong đó, chú trọng đào tạo nhân lực quản lý bậc trung và nhân lực làm việc trong lĩnh vực chuyển đổi số. Nên ưu tiên hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực cho những dự án sử dụng công nghệ cao, quy mô lớn phù hợp với hình thành các lĩnh vực mũi nhọn và hình thành các sản phẩm chủ lực của Việt Nam.

Các địa phương cũng cần có kế hoạch đào tạo nhân lực thay thế cho nhu cầu của các doanh nghiệp FDI phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển.

Bốn là, ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt chiến lược phát triển đội ngũ doanh nghiệp trong nước có khả năng phối kết hợp với doanh nghiệp FDI

Cần nhanh chóng xây dựng chiến lược về phát triển đội ngũ doanh nghiệp quốc gia. Trong đó, cần có chiến lược phát triển đội ngũ doanh nghiệp trong nước có năng lực kết nối với doanh nghiệp FDI ngày một nhiều hơn.

Thời gian đầu, Nhà nước nên phát triển mạnh hình thức liên kết giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước để hình thành đội ngũ đủ năng lực chế tạo thiết bị, linh kiện phục vụ lắp ráp cho các doanh nghiệp FDI lớn. Sau đó, thực hiện từng bước mua lại doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của người nước ngoài.

Năm là, Nhà nước cần tổ chức đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI

Việt Nam cần tổ chức nghiên cứu xây dựng Tài liệu hướng dẫn đánh giá hiệu quả phát triển FDI, hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI trên phạm vi cả nước. Chính phủ nên có hướng dẫn việc đánh giá hiệu quả FDI thống nhất cho các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Trong đó, nhất thiết phải xây dựng được các chỉ tiêu định lượng như tác giả đã trình bày ở trên và tìm cách đánh giá thiệt hại do chuyển giá của doanh nghiệp FDI.

Từ đó, hàng năm, Chính phủ, chính quyền các địa phương triển khai việc đánh giá hiệu quả FDI. Thông tin kết quả đánh giá cho doanh nghiệp và người dân được biết một cách công khai, minh bạch./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương (2021). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020). Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2020, Nxb Thống kê

3. Tổng cục Thống kê (2016, 2020). Niên giám thống kê năm 2015 và 2019, Nxb Thống kê

4. Ngô Doãn Vịnh (2005). Bàn về phát triển kinh tế: Nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang, Nxb Chính trị quốc gia

5. Ngô Thúy Quỳnh (2019). Quản lý phát triển bền vững ở Việt Nam, Tạp chí khoa học, Đại học Hùng Vương, số 2/2019

6. Giang Vi (2020). Lao động việc làm trong xu thế mới của vốn FDI, truy cập từ https://nhandan.com.vn/nhan-dinh/lao-dong-viec-lam-trong-xu-the-moi-cua-von-fdi

 

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM