VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp nhà nước

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp nhà nước

Trong những năm qua, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước (DN) và DN có cổ phần, vốn góp của Nhà nước đều có sự tăng trưởng đáng kể về doanh thu, lợi nhuận và đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách nhà nước (NSNN).

Nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Doanh nghiệp nhà nước đảm bảo nguyên tắc thực hiện công bố thông tin

Nhận diện rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước (*)

Cảnh báo trái phiếu doanh nghiệp bất động sản giữa "cơn sốt" đất

Mặc dù vậy, tình hình thực thi pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước của một số DN còn chưa nghiêm, chưa đảm bảo nguyên tắc thị trường; công tác quản lý đầu tư, quản lý tài chính, quản lý rủi ro đạt hiệu quả chưa cao... Thực tiễn này đòi hỏi cần có giải pháp đồng bộ để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tài chính tại các DNNN, đáp ứng yêu cầu bối cảnh mới.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước

Số liệu thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2016- 2019, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN và DN có cổ phần, vốn góp của Nhà nước đều có sự tăng trưởng đáng kể về doanh thu, lợi nhuận và đóng góp ngày càng lớn vào NSNN. Cụ thể:

Mặc dù, số DNNN giảm dần qua các năm, từ 583 DNNN năm 2016 xuống còn 491 DNNN năm 2019, song tổng doanh thu của các DNNN vẫn tăng từ 1.515.822 tỷ đồng năm 2016 lên 1.656.124 tỷ đồng năm 2019 (tăng 9%).

Thuế và các khoản phát sinh phải nộp NSNN của các DNNN tăng từ 251.846 tỷ đồng lên 283.000 tỷ đồng (tăng 12,37%). Trong đó, thuế và các khoản nộp NSNN bình quân 01 DNNN là 489 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân của 01 DNNN là 10,8%.

Tình hình sản xuất kinh doanh của DN có cổ phần, vốn góp của Nhà nước cũng cho thấy nhiều điểm sáng. Theo đó, số DN có cổ phần, vốn góp của Nhà nước dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở tăng từ 273 DN năm 2016 lên 327 DN năm 2019 (tăng 54 DN). Tổng doanh thu của các DN tăng từ 423.251 tỷ đồng năm 2016 lên 662.286 tỷ đồng (tăng 56,48%). Trong đó, doanh thu bình quân 01 DN là 1.773 với tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân 01 DN trong 4 năm đạt 9,32%.

Về lợi nhuận, thống kê cho thấy, lợi nhuận trước thuế của các DN có cổ phần, vốn góp của Nhà nước tăng từ 31.724 tỷ đồng năm 2016 lên 55.634 tỷ đồng năm 2019 (tăng 75,37%). Lợi nhuận trước thuế bình quân 01 DN đạt 138 tỷ đồng, tăng trưởng lợi nhuận bình quân 01 DN trong 4 năm đạt 13,7%. Tỷ suất lãi phát sinh trước thuế/vốn chủ sở hữu bình quân và tỷ suất lãi phát sinh trước thuế/tài sản  bình  quân của các DN có vốn nhà nước năm 2019 lần lượt là 17% và 7%, đều cao hơn DNNN.

Về tình hình thoái vốn cho thấy, tổng giá trị thoái vốn giai đoạn 2016-2020 đạt 25.749 tỷ đồng,  thu về NSNN là 173.103 tỷ đồng...

Rủi ro tài chính doanh nghiệp nhà nước và những nguyên nhân chủ yếu

Rủi ro tài chính DNNN bao gồm rủi ro nội tại  của DN và rủi ro bên ngoài. Để xác định rủi ro tài  chính DNNN chính xác và khách quan, bài viết nhận diện các rủi ro như sau:

Rủi ro nội tại của DN, bao gồm: Rủi ro quản trị, rủi ro tài chính và rủi ro người đứng đầu DNNN.   Cụ thể:

Rủi ro quản trị: Rủi ro chiến lược, các rủi ro xuất phát từ các vấn đề liên quan đến quản trị, môi trường kinh doanh và các bên liên quan như khách hàng, nhà đầu tư, đối thủ; Rủi ro hoạt động, các rủi ro liên quan việc sử dụng hiệu quả nguồn lực trong hoạt động hàng ngày, rủi ro tới từ các quy trình, hệ thống, con người và văn hóa hay do ảnh hưởng của các sự kiện bên ngoài; Rủi ro tuân thủ, các rủi ro có liên quan tới việc chấp hành các quy định hoặc nội quy của doanh nghiệp, các luật và văn bản pháp lý khác của Nhà nước liên quan đến hoạt động kinh doanh của

Rủi ro tài chính: Là rủi ro liên quan đến tình hình tài chính như rủi ro tín dụng, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, đầu tư, tài sản, công nợ, dòng tiền...

Rủi ro về người đứng đầu: Đây là rủi ro tiềm ẩn của các DNNN do cơ chế người đứng đầu chậm đổi mới, chưa có sự cạnh tranh nên việc thay đổi, lựa chọn lãnh đạo trẻ, có năng lực, năng động, đột phá còn hạn chế.

Rủi ro bên ngoài doanh nghiệp được thể hiện gồm: Rủi ro từ thị trường tài chính và các định chế  tài chính; Rủi ro của DN với tài chính công; Rủi ro về thể chế, rủi ro từ nền kinh tế.

Rủi ro từ thị trường tài chính và các định chế tài chính: Rủi ro khi dòng vốn khan hiếm, giá phí huy động vốn trên thị trường tín dụng ngân hàng cao so với khả năng sinh lời của DN, dẫn đến DN không trả nợ được các tổ chức tín dụng. Trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư rút vốn đầu tư, bán tháo cổ phiếu dẫn đến DN khó khăn trong việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn do giá cổ phiếu giảm sút.

Rủi ro của DN với tài chính công: Rủi ro từ những thay đổi về chính sách thu thuế của Nhà nước dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của  DN gặp khó khăn về dòng tiền hay chính sách thắt chặt chi ngân sách của Nhà nước dẫn đến thu hẹp   cơ hội kinh doanh của DN, đặc biệt là các DNNN cung cấp sản phẩm công ích...

Rủi ro về thể chế: Rủi ro khi cơ chế chính sách không rõ ràng, xung đột giữa các quy định pháp luật. Hay vấn đề hình sự hóa các hoạt động kinh tế.

Rủi ro từ nền kinh tế: Rủi ro từ khủng hoảng kinh tế khu vực, thế giới; từ dịch bệnh toàn cầu covid-19, từ những điểm bất lợi khi hội nhập sâu rộng về kinh tế hay từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ -

Thực trạng quản lý tài chính tại DNNN trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng công tác quản trị rủi ro tài chính DNNN vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Cụ thể:

Thứ nhất, trong quá trình thực thi pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DN còn tình trạng lãnh đạo tại DNNN và DN có vốn nhà nước chưa tuân thủ các quy định của pháp luật; chưa đảm bảo nguyên tắc thị trường, thực hiện nghiêm việc công khai, minh bạch trong định giá, đấu giá, mua bán tài sản của DNNN, trong quá trình thực hiện cổ phần hóa (CPH), thoái vốn nhà nước.

Theo đó, vi phạm quy định của pháp luật về đất đai, bán tài sản gắn liền với đất không qua đấu giá cũng xảy ra phổ biến. Thực tiễn cho thấy, một số DN cổ phần có vốn Nhà nước bán tài sản gắn liền với  đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013; không chuyển sang thuê đất sau khi chuyển thành công ty cổ phần; sai phạm trong việc giao đất có thu tiền sử dụng đất không đúng quy định của Luật Đất đai; cho phép công ty chuyển nhượng không đúng quy định, chuyển từ tài sản nhà nước thành tài sản của công ty cổ phần, sau đó tiếp tục chuyển nhượng lại cho tư nhân để thu lợi và giá chuyển nhượng thấp hơn giá đất quy định tại thời điểm bán của UBND tỉnh.

Trong xác định giá trị DN và xử lý các vấn đề tài chính trước khi xác định giá trị DN cũng xuất hiện   vi phạm, tồn tại như: Việc xác định giá trị và xử lý các vấn đề tài chính của DN không chính xác, chưa phù hợp với quy định hiện hành, đặc biệt liên quan đến giá trị quyền sử dụng đất, chi phí thương hiệu, lợi thế kinh doanh, các khoản đầu tư tài chính...; kiểm kê thiếu tài sản, phân loại tài sản, loại tài sản không cần dùng khỏi giá trị DN hoặc bàn giao tài sản không đúng quy định; không đối chiếu đầy đủ công nợ, báo cáo tài chính tại  thời điểm  xác định giá trị DN chưa được điều chỉnh theo kết quả kiểm tra, thanh tra của cơ quan có thẩm quyền... dẫn đến giảm giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại các DN. Các vi phạm quyền, nghĩa vụ cổ đông được biểu hiện như lạm dụng quyền lực để mua gom cổ phần và trở thành nhóm cổ đông chi phối, biến DNNN từ sở hữu nhà nước thành sở hữu tư nhân. Đồng thời, vi phạm pháp luật đấu thầu, đấu giá chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật về đấu thầu, còn tình trạng “trốn thầu” hoặc lỏng lẻo, hình thức trong triển khai đấu thầu và chuyển đổi mục đích sử dụng quỹ đất mà DNNN nắm giữ khi CPH.

Ngoài ra, vi phạm trong công tác quản lý, sử  dụng tài sản nhà nước trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh: Một số cán bộ quản lý DNNN còn thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý trong quá trình tổ chức triển khai hoạt động nên vẫn còn DNNN sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp, thua  lỗ; một số DNNN vẫn còn những dự án chưa hiệu quả, làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.

Hai là, trong những năm qua, công tác đổi mới quản trị DN trong điều hành sản xuất kinh doanh còn chậm. Tại nhiều DNNN chưa theo kịp yêu cầu biến động của thị trường, chưa thực sự theo cơ chế thị trường. Công tác quản lý đầu tư, quản lý tài chính, quản lý rủi ro, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, thất thoát còn lỏng lẻo, chi phí sản xuất kinh doanh còn lớn. Việc tổ chức thực hiện pháp luật về công bố thông tin còn mang tính hình thức, dẫn tới khó khăn trong giám sát DN, tạo dư luận     xã hội thiếu tích cực về tính minh bạch của DNNN. Cụ thể:

Mục tiêu đầu tư của chủ sở hữu nhà nước  và mục tiêu hoạt động của nhiều DNNN chưa rõ ràng, ảnh hưởng không tốt đến thực hành quản trị DNNN theo thông lệ chung, nhất là việc thực hiện  cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của  DNNN, người quản lý DN và người đại diện vốn  nhà nước.

Tổ chức thực hiện vai trò chủ sở hữu nhà nước trong quản trị DN còn nhiều vướng mắc, hiệu quả và hiệu lực chưa đáp ứng yêu cầu. Việc duy trì quá nhiều DN 100% vốn nhà nước là rào cản để chủ sở hữu nhà nước áp dụng các thông lệ tốt về quản trị DN. Chủ sở hữu nhà nước còn quyết định nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị kinh doanh của DN 100% vốn nhà nước. Trách nhiệm giải trình của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước chưa đủ rõ.

Những tồn tại, hạn chế  trong quản  trị  rủi  ro tài chính tại các DNNN phần lớn xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu như sau:

Thứ nhất, trong quá trình tổ chức thực hiện của một số bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn chưa thực sự nghiêm túc trong triển khai kế hoạch CPH, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu DN, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của DN, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong CPH và thoái vốn nhà nước.

Thứ hai, còn vướng mắc, lúng túng trong việc triển khai thực hiện sắp xếp, xử lý cơ sở nhà, đất    đối với tài sản công, đặc biệt đối với các DN đầu      tư kinh doanh bất động sản; Xác định phương án    sử dụng đất và giá đất; Xác định lợi thế quyền thuê đất, lợi thế đối với đất thuê đang thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất để làm dự án kinh doanh, nhưng chưa hoàn thành việc chuyển đổi mục đích   sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán của các cơ quan quản  lý nhà nước không cao dẫn đến những vi phạm pháp luật, rủi ro, yếu kém, thua lỗ trong DNNN không được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. Hệ thống thông tin quản lý, giám sát tài sản, vốn DNNN và DN có vốn nhà nước chưa hoàn chỉnh, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý,  giám sát của cơ quan chức năng.

Thứ tư, hoạt động kiểm tra, giám sát của đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại DN, công   tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kiểm soát nội bộ chưa thường xuyên, kém hiệu quả.

Thứ năm, môi trường pháp lý về CPH nói chung và xác định giá trị DN để CPH DNNN nói riêng còn chưa xác định cụ thể các phương pháp xác định giá trị DN; đồng thời, chưa có tiêu chuẩn cụ thể để định giá thương hiệu, uy tín, mẫu mã nên chưa tính được hết giá trị tiềm năng của DN...

Giải pháp nâng cao quản  trị  rủi  ro tài chính tại doanh nghiệp nhà nước

Trong thời gian tới, nhằm năng cao quản trị rủi  ro tài chính tại DNNN, cần chú trọng một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu, cụ thể, cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch hội đồng thành viên tập đoàn kinh tế, tổng công ty, DN nhà nước với việc phê duyệt phương   án cơ cấu lại DN, tổ chức và giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả phương án được duyệt; Ràng buộc trách nhiệm người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước với công tác công khai thông tin của DN; Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có trách nhiệm giải trình trước cơ quan đại diện chủ sở hữu, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương khi được yêu cầu.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể  chế,  khuôn khổ pháp lý: Về tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN, về sắp xếp, CPH, thoái vốn theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN; Xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ về DN và vốn, tài sản của Nhà nước. Đồng thời, hoàn thiện chính sách về CPH DN, đặc biệt là hướng dẫn về công tác xác định giá trị DN để khắc phục tồn tại như bổ sung hướng dẫn về phương pháp xác định giá trị DN; Quy định về xác định giá trị quyền sử dụng đất, quyền thuê đất, các lợi thế liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền thuê đất, giá trị lợi thế kinh doanh (giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển).

Bên cạnh đó, đẩy mạnh CPH và đa sở hữu để tạo điều kiện thuận lợi áp dụng các thông lệ tốt về quản trị DN, sớm hoàn thành mục tiêu đến năm 2025 hầu hết các DNNN có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là DN cổ phần; giảm thiếu tố đa loại hình DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, thu hẹp diện DN do Nhà nước duy trì cổ phần chí phối.

Thứ ba, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách về đất đai theo hướng quản lý chặt chẽ đất đai sau CPH, bảo đảm đúng mục đích sử dụng đất đai: Quản lý chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất cơ sở kinh doanh sang các dự án nhà ở    để bán; nếu người sử dụng đất không có nhu cầu    sử dụng theo mục đích thì thu hồi, chuyển giao cho đơn vị khác hoặc tổ chức đấu giá để đảm bảo lợi    ích nhà nước; Các trường hợp sử dụng sai mục đích cần có chế tài xử lý mạnh.

Thứ tư, minh bạch hóa hoạt động đầu tư, kinh doanh của chủ sở hữu nhà nước và mục tiêu hoạt động của từng DNNN; Nâng cao trách nhiệm, sự chuyên nghiệp, hiệu quả và tính  năng  động  của cơ quan đại diện chủ sở vốn nhà nước. Thực hiện nguyên tắc DNNN có quyền tự chủ đầy đủ trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do cơ quan đại  diện chủ sở hữu giao; Phân định rõ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng tác nghiệp, chủ động điều hành DN để tránh sự can thiệp hành chính, trực tiếp về quyền điều hành sản xuất kinh doanh của chủ sở hữu nhà nước vào DN.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để kịp thời phát hiện vi phạm và có  biện pháp xử lý, khắc phục; Thực  hiện  nghiêm, dứt điểm các kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm toán, có chế tài xử lý nghiêm đối với các  trường hợp không thực hiện, chậm thực hiện kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về công bố thông tin nhằm nâng cao tính minh bạch về hoạt  động của DNNN.                                               

Tài liệu tham khảo:

  1. Nghị quyết số 26/2016/QH14 ngày 10/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020;
  2. Báo cáo số 496/BC-CP ngày 10/10/2020 của Chính phủ trình Quốc hội;
  3. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 140/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 126/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2017/ NĐ-CP ngày 16/11/2017 của chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một  thành  viên do  doanh nghiệp nhà nước đầu tư  100% vốn  điều lệ  thành công  ty cổ phần; Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp  và  quản  lý,  sử  dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp và Nghị định số 32/2018/ NĐ-CP ngày 08/3/2018 của chính phủ sửa đổi, bổ  sung một số  điều của  Nghị định  số 91/2015/ NĐ-CP;
  4. Nghị quyết số 161/NQ-CP ngày 29/10/2020 về đẩy mạnh đổi  mới,  nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM