Hỏi - đáp về thuế Thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú tại Việt Nam (Phần 2)

(Tài chính) FinancePlus.vn tập hợp một số tài liệu dưới dạng hỏi - đáp Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với cá nhân không cư trú tại Việt Nam nhằm giúp độc giả hiểu rõ về những quy định mới này.

Câu 6: Tôi hiện đang kinh doanh ở Nga, do kinh tế khó khăn, tôi quyết định về Việt Nam bán một mảnh đất để có tiền tiếp tục đầu tư kinh doanh. Vì chỉ ở Việt Nam được khoảng 03 tháng nên tôi có nhờ một công ty môi giới bất động sản tìm người mua giúp tôi và họ nói với tôi rằng tôi phải nộp thuế TNCN nếu chuyển nhượng bất động sản. Vậy mức thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là bao nhiêu?

Theo quy định tại Điều 29 Luật thuế TNCN thì mức thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam của cá nhân không cư trú được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản nhân với (x) thuế suất 2%.

Câu 7: Anh P là người Việt Nam đã nhập quốc tịch Hà Lan và định cư tại đó nhưng chưa xin thôi quốc tịch Việt. Anh P đã nghiên cứu và xây dựng giải pháp thoát nước cho các thành phố lớn ở Việt Nam. Đây là giải pháp mang tính khả thi cao và được Tổng Công ty môi trường đô thị Việt Nam đặt mua. Xin hỏi, anh P có phải nộp thuế TNCN từ việc chuyển nhượng bản quyền giải pháp thoát nước này không? Nếu có thì mức thuế anh phải nộp là bao nhiêu?

Theo quy định của Luật thuế TNCN thì cá nhân có thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại thuộc đối tượng nộp thuế TNCN .

Tại Điều 30 Luật thuế TNCN , mức thuế đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại được tính như sau:

1. Thuế đối với thu nhập từ bản quyền của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ tại Việt Nam nhân với thuế suất 5%.

2. Thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam nhân với thuế suất 5%. 

Như vậy, nếu giá trị chuyển nhượng bản quyền giải pháp thoát nước mà anh P nhận được trên 10 triệu đồng thì anh sẽ phải nộp thuế với mức thuế suất là 5%/giá trị hợp đồng chuyển nhượng.

Câu 8: Tôi và vợ hiện đang sinh sống tại Mỹ và có quốc tịch Mỹ. Trong đợt nghỉ hè về Việt Nam, tôi có đến Câu lạc bộ Palazzo (CLB trò chơi có thưởng dành cho người nước ngoài đặt tại khách sạn S) và tham gia trò chơi điện tử có thưởng. Tôi đã trúng thưởng 50.000 USD. Khi làm thủ tục nhận thưởng, Câu lạc bộ Palazzo chỉ trả tôi 45.000 USD, số tiền còn lại họ giải thích là để nộp thuế TNCN . Đề nghị cho biết việc Câu lạc bộ Palazzo giữ lại tiền thuế của tôi có đúng không?

Theo quy định tại Điều 31 Luật thuế TNCN thì thuế đối với thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng đối với người không cư trú tại Việt Nam được xác định bằng thu nhập chịu thuế nhân với thuế suất 10%. Trong đó, thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng của cá nhân không cư trú là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng theo từng lần trúng thưởng tại Việt Nam; thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là phần giá trị tài sản thừa kế, quà tặng vượt trên 10 triệu đồng theo từng lần phát sinh thu nhập mà cá nhân không cư trú nhận được tại Việt Nam.

Chiếu theo quy định trên, thì giá trị giải thưởng mà anh nhận được là trên 10 triệu đồng nên việc Câu lạc bộ Palazzo khấu trừ tiền thuế TNCN của anh là hoàn toàn đúng.

Câu 9: Thời điểm để xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân không cư trú tại Việt Nam là khi nào?

Theo quy định tại Điều 32 Luật thuế TNCN thì thời điểm xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân không cư trú tại Việt Nam được xác định như sau:

1. Đối với thuế thu nhập chịu thuế của cá nhân từ kinh doanh theo quy định tại Điều 25 của Luật này là thời điểm cá nhân không cư trú nhận được thu nhập hoặc thời điểm xuất hoá đơn bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ.

2. Đối với thu nhập chịu thuế của cá nhân từ tiền lương, tiền công, từ đầu tư vốn, thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng (Điều 26, 27, 30, 31 Luật thuế TNCN năm 2007)  là thời điểm tổ chức, cá nhân ở Việt Nam trả thu nhập cho cá nhân không cư trú hoặc thời điểm cá nhân không cư trú nhận được thu nhập từ tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

3. Đối với thu nhập chịu thuế của cá nhân từ chuyển nhượng vốn, chuyện nhượng bất động sản (điều 28, 29 Luật thuế TNCN năm 2007) là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực.

Câu 10: Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trả thu nhập và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú ở Việt Nam khi thực hiện Luật thuế TNCN?

Theo quy định tại Điều 33 Luật thuế TNCN năm 2007 thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập và đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú có trách nhiệm sau:

1. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo từng lần phát sinh đối với các khoản thu nhập chịu thuế trả cho đối tượng nộp thuế.

2. Đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú có trách nhiệm kê khai, nộp thuế theo từng lần phát sinh thu nhập đối với thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.