VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585
Xử lý nợ xấu: Thực tế từ áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 tại các tổ chức tín dụng

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Xử lý nợ xấu: Thực tế từ áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 tại các tổ chức tín dụng

Bài viết nghiên cứu về thực tế áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam nhằm hiểu rõ hơn về thực trạng xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng.

Tháo gỡ vướng mắc về xử lý nợ xấu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trích lập dự phòng trong bối cảnh nợ xấu của ngân hàng thương mại giai đoạn hiện nay

Bất ngờ nợ xấu ngân hàng

Năm 2021, lợi nhuận ngân hàng có thể tăng 15%, nợ xấu lên 4%

Việc Quốc hội thể chế hóa công tác xử lý nợ xấu thông qua việc xây dựng và ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã khắc phục các tồn tại, hạn chế trong công tác xử lý nợ xấu, tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và đồng bộ về xử lý nợ xấu; tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các tổ chức tín dụng (TCTD) trong việc xử lý hiệu quả, dứt điểm nợ xấu. Bài viết nghiên cứu về thực tế áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam nhằm hiểu rõ hơn về thực trạng xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng.

1. Tổng quan về nợ xấu

Những năm qua, nợ xấu trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng - tài chính. Nợ xấu được hiểu là khoản nợ mà quá thời hạn thanh toán một số ngày nhất định nhưng người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ của mình đối với ngân hàng cho vay.

Nợ xấu không những ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của chính các ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Nợ xấu làm giảm nguồn vốn kinh doanh, làm giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán từ đó ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Nợ xấu làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển của các TCTD, qua đó làm giảm vòng quay của vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

Các chi phí phát sinh do nợ xấu gây ra rất lớn (chi trả lãi tiền gửi, chi phí quản lý xử lý nợ xấu,…). Mặt khác, nợ xấu hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, hạn chế khả năng kinh doanh của các TCTD, qua đó ảnh hưởng đến nguồn cung vốn cho doanh nghiệp, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị đình trệ.

Việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Nếu tỷ nợ xấu quá cao, hoạt động ngân hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng không có vốn để thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn. Ở mức độ trầm trọng, sẽ dẫn tới sự phá sản ngân hàng. Do đó, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế và xử lý nợ xấu là một công việc hết sức quan trọng tại các ngân hàng thương mại.

Tại Việt Nam, theo Quyết định số 22/2014/QĐ-NHNN ngày 4/6/2014 của Ngân hàng Nhà nước về quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các TCTD và theo Thông tư số 04/2019/TT-NHNN ngày 29/3/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi. Theo Điều 10 Thông tư 02/2013/TT-NHNN, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo 5 nhóm:

(i)      Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn);

(ii)     Nhóm 2 (Nợ cần chú ý);

(iii)    Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn);

(iv)    Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ);

(v)     Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).

Để tính toán và phân loại nhóm nợ, cơ quan quản lý sẽ căn cứ theo chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu được tính toán như sau:

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ x 100%

Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, phản ánh khả năng thu hồi vốn. Tỷ lệ nợ xấu cao thì khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Hiện nay, theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn cho phép là dưới 3%.

2. Thực tiễn áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 trong quá trình xử lý nợ xấu tại các TCTD

Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD, có hiệu lực từ ngày 15/8/2017 và được thực hiện trong thời hạn 5 năm từ ngày có hiệu lực thi hành. Nghị quyết số 42/2017/QH14 điều chỉnh quy định thí điểm một số chính sách về xử lý nợ xấu, xử lý tài sản đảm bảo (TSĐB) của khoản nợ xấu của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của TCTD; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý nợ xấu và xử lý TSĐB của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các TCTD. Để xác định rõ phạm vi điều chỉnh, Nghị quyết số 42/2017/QH14 đãquyđịnh cụ thể tiêu chí, phạm vi, cách thức xác định một khoản nợ là nợ xấu được áp dụng các chính sách theo quy định.

Với quyết tâm tháo gỡ các vướng mắc và cản trở về mặt pháp lý trong quá trình xử lý nợ xấu của các TCTD, Nghị quyết số 42/2017/QH14 khẳng định quyền thu giữ và xử lý TSĐB của TCTD và Công ty Mua bán tài sản của các TCTD (VAMC), khẳng định lại quyền mua bán nợ xấu theo giá thị trường, cho phép áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan tới TSĐB tại Tòa án, quy định nghĩa vụ thuế, phí khi chuyển nhượng TSĐB, phương thức phân bổ lãi dự thu, khoản chênh lệch khi bán nợ xấu của TCTD và VAMC,….

2.1. Kết quả đạt được

Xác định việc triển khai các chính sách xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng nhằm khẩn trương đẩy mạnh xử lý nợ xấu của các TCTD, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố và các cơ quan có liên quan rà soát những khó khăn, vướng mắc, bất cập, xung đột pháp lý giữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngành Ngân hàng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ để triển khai thành công Nghị quyết số 42/2017/QH14. NHNN cũng đã kịp thời có các văn bản gửi các bộ, ban, ngành nhằm hỗ trợ, hướng dẫn, giải đáp các khó khăn vướng mắc của các TCTD trong quá trình triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14.

Theo báo cáo của NHNN, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD trong giai đoạn 2016-2020 được duy trì dưới mức 3%, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD giảm liên tục qua các năm. Cuối năm 2016 đạt 2,46%; tháng 8/2017 đạt 2,45%; cuối năm 2017 đạt 1,99%; cuối năm 2018 đạt 1,9%; cuối năm 2019 đạt 1,63% và đến ngày 31/5/2020 ở mức 1,86%.

Bên cạnh kết quả trong xử lý nợ xấu nói chung, xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 cũng đạt được kết quả bước đầu quan trọng; các hình thức xử lý nợ xấu được các TCTD vận dụng, áp dụng đa dạng, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, cụ thể:

- Lũy kế từ ngày 15/8/2017 đến ngày 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 293.880 tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14.

- Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 được xử lý từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020 đạt trung bình khoảng 7.150 tỷ đồng/tháng, cao hơn 3.630 tỷ đồng/tháng (gấp hơn 2 lần) so với kết quả xử lý nợ xấu giai đoạn 2012 - 2017 của hệ thống các TCTD trước khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực.

Trước khi có Nghị quyết số 42/2017/QH14, nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro trong khi đó các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm và khách hàng trả nợ còn chưa cao.

Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực, từ ngày 15/8/2017 đến ngày 31/5/2020, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết số 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 121.400 tỷ đồng (chiếm khoảng 40,1% tổng nợ xấu nội bảng), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng đã xử lý trung bình năm từ 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Từ đó cho thấy, kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Không chỉ việc xử lý nợ xấu có chuyển biến tích cực mà hoạt độngđấu giá, định giá khoản nợ và tài sản bảo đảm theo NHNN kể từ khi có Nghị quyết số 42/2017/QH14 cũng đã có dấu hiệu chuyển biến tích cực cả về số lượng lẫn chất lượng.

Cụ thể, trong 3 năm qua, VAMC đã tổ chức đấu giá thành công 15 khoản nợ với tổng giá trị trúng đấu giá đạt 1.322 tỷ đồng; đồng thời, VAMC đã thu giữ, nhận bàn giao tài sản bảo đảm của 7 khách hàng/nhóm khách hàng. Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã tác động tích cực đến hoạt động xử lý, thu hồi nợ của VAMC. Từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020, VAMC đã thu hồi nợ ước đạt 91.469 tỷ đồng, bằng 60% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ năm 2013 đến ngày 31/5/2020.

Quá trình triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã làm thay đổi tư duy về nợ xấu, khẳng định quyền của chủ nợ, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người vay; ý thức trả nợ của khách hàng được nâng cao, các quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã được các TCTD áp dụng có hiệu quả bước đầu trên thực tế (chủ yếu thực hiện theo hình thức thu giữ TSBĐ, bán nợ theo giá trị thực tế, phân bổ lãi dự thu, mua khoản nợ xấu đang hạch toán trong, ngoài bảng cân đối kế toán,...), đảm bảo các TCTD tiếp tục phát huy tốt vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo và đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế.

2.2. Những hạn chế, bất cập khi thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14

Mặc dù Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã tạo cơ chế xử lý đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của TCTD, nhưng quá trình triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã nổi lên một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế.

Tại nhiều địa phương vẫn có tâm lý xử lý nợ xấu là việc của ngành ngân hàng nên lãnh đạo địa phương chưa quyết liệt, sự phối hợp thiếu đồng bộ của các cơ quan hữu quan trên địa bàn khiến việc xử lý nợ xấu, đặc biệt là việc thu giữ tài sản bảo đảm của khách hàng còn khó khăn, nhất là trường hợp doanh nghiệp sau cổ phần hóa, pháp nhân mới không thừa nhận nghĩa vụ trả nợ của pháp nhân cũ vốn là doanh nghiệp nhà nước dẫn đến tranh chấp kéo dài.

Hoạt động mua bán nợ xấu và tài sản bảo đảm theo NHNN cũng đang có nhiều hạn chế như hoạt động này hiện chỉ diễn ra giữa ngân hàng với VAMC hoặc Công ty Mua bán nợ (DATC) mà chưa có sự tham gia của nhà đầu tư khác trong và ngoài nước. Nguyên nhân do điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ khá phức tạp, yêu cầu về vốn cao; quy định hiện hành về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ chưa quy định rõ đầu mối tạo lập, phát triển thị trường giao dịch mua bán nợ; đội ngũ môi giới mua, bán nợ chuyên nghiệp còn thiếu.

Hiện tại, sau khi mua nợ, bên mua nợ quản lý, khai thác và vận hành TSĐB cũng như quản lý rủi ro liên quan tới TSĐB do việc chuyển nhượng hoặc ủy thác quản lý các khoản nợ rất khó thực hiện vì chưa có thị trường mua bán nợ, TSĐB nợ thứ cấp.

Nghị quyết số 42/2017/QH14 cho phép các TCTD có quyền thu giữ TSĐB của khoản nợ xấu. Nhưng trên thực tế, việc thu giữ tài sản hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (đặc biệt trong trường hợp khách hàng không hợp tác, cố ý chây ỳ trong việc bàn giao tài sản).

Bên cạnh đó, cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng TSĐB; đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là TSĐB của khoản nợ xấu; điều kiện chuyển nhượng TSĐB là dự án bất động sản; công tác phối hợp trong hoạt động thi hành án dân sự; việc giới hạn phạm vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá... hiện nay còn nhiều hạn chế, khó khăn, vướng mắc khi thực hiện xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội.

Việc xử lý nợ chủ yếu được các bên tiến hành theo hình thức thông thường, tức là đôn đốc khách hàng trả nợ và mua lại các khoản nợ đã bán cho VAMC. Việc xử lý nợ thông qua thủ tục rút gọn là không đáng kể. Vì vậy có thể cho rằng việc áp dụng triệt để các quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 vào xử lý nợ xấu là chưa cao và chưa mang lại nhiều hiệu quả.

Thực tế kết quả những cuộc bán đấu giá thành công TSĐB nợ chỉ chiếm khoảng 50%. Nhiều gói TSĐB nợ xấu phải định giá, giảm giá nhiều lần, nhưng do tâm lý e ngại của nhà đầu tư nên việc bán thành công là rất khó khăn. Chưa kể thành phần TSĐB đối với nhiều khoản nợ xấu là rất phức tạp, bao gồm nhiều loại hình tài sản như xe cộ, nhà cửa, máy móc, hàng hóa nên việc định giá và hoàn thiện các hồ sơ thủ tục luôn mất nhiều thời gian, chi phí.

3. Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14

Nếu tăng trưởng GDP năm 2020 khoảng 4%, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ước tính đến cuối năm 2020 ở mức là 2,41% (tăng 0,78 điểm % so với cuối năm 2019), Ngần hàng Nhà nước đánh giá, chất lượng tín dụng toàn ngành có xu hướng suy giảm, nợ xấu đang gia tăng nhanh trong 5 tháng đầu năm 2020. Nếu GDP tăng khoảng 5%, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ước tính đến cuối năm 2020 ở mức 2,16% (tăng hơn 0,5 điểm % so với cuối năm 2019). Bên cạnh đó, dịch COVID-19 đang tác động trực tiếp đến tình hình hoạt động, chất lượng tài sản và kết quả kinh doanh của TCTD.

Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế GDP 6 tháng đầu năm 2020 của Việt Nam chỉ đạt 1,81% (mức tăng thấp nhất cùng kỳ trong giai đoạn 2011-2020). Nhiệm vụ đặt ra là phải vừa cơ cấu lại vừa xử lý nợ xấu, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, đồng thời, yêu cầu lớn đặt ra là bảo đảm an toàn hệ thống, hạn chế tín dụng đen. Vì vậy, cần rà lại, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan nhất là về thi hành án, xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi tài sản, bảo đảm nhanh, thuận lợi, thúc đẩy xử lý nợ xấu và cơ cấu lại ngân hàng yếu kém.

Việc thu giữ TSĐB vẫn là vướng mắc chính, khiến các TCTD khó tiến hành xử lý nhanh các khoản nợ xấu. Vì vậy, trong thời gian tới, nếu Nghị quyết số 42/2017/QH14 được Quốc hội xem xét “luật hóa” thì cần tính đến việc mở rộng phạm vi, quyền hạn và quy định cụ thể hơn, tạo sự chủ động nhiều hơn cho các TCTD trong khâu thu giữ TSĐB nợ.

Đồng thời, cần có hệ thống dữ liệu cho phép các TCTD trích xuất, tra cứu thông tin tài sản có liên quan đến vụ việc đang được thụ lý, giải quyết tại Tòa án, Cơ quan Thi hành án dân sự (THADS). Đồng thời cần có hướng dẫn xác định sớm hữu hiệu trong quá trình thẩm định để xác định thời gian phát sinh tranh chấp; tài sản nào đang tranh chấp, cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau để áp dụng đồng bộ khi xử lý theo Nghị quyết số 42/2017/QH14.

Đối với các thủ tục rút gọn ở tòa án, thời gian qua rất nhiều trường hợp các khoản nợ xấu đang được xử lý theo Nghị quyết số 42/2017/QH14, nhưng phát sinh các đơn kiện của bên thứ 3 nên buộc phải dừng lại. Nhiều bên liên quan đến quyền lợi tài sản đã lợi dụng những kẽ hở của Nghị quyết số 42/2017/QH14 và các luật liên quan cố tình gửi đơn ra tòa chỉ nhằm mục đích kéo dài, dây dưa trong quá trình xử lý tài sản đảm bảo nợ xấu. Vì thế, nếu được sửa đổi, “luật hóa” thì các quy định về điều kiện tiếp nhận đơn kiện của bên thứ 3 trong quá trình xử lý nợ xấu cũng cần được tính đến và quy định cụ thể đối với ngành Tòa án để thực hiện thống nhất.

Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm xem xét và sửa đổi, bổ sung vấn đề liên quan đến giấy tờ hồ sơ khi thực hiện đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; kiến nghị Tổng Cục Thi hành án dân sự cần rà soát lại những vụ việc thi hành án còn tồn đọng, liên quan đến xử lý TSĐB thu hồi nợ, ưu tiên triển khai thực hiện để đảm bảo giá TSĐB thu hồi lớn nhất, đồng thời có văn bản chỉ đạo các Cục thi hành án dân sự ở địa phương cần tập trung và quyết liệt hơn nữa để giải quyết dứt điểm các vụ việc đang thi hành án; Kiến nghị cần phải có hướng dẫn cụ thể, thống nhất thực hiện Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 liên quan đế thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSĐB và việc chuyển nhượng TSĐB giữa các bộ, ngành có liên quan (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp - Tổng cục thi hành án dân sự).

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến thời điểm 31/5, nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng tăng 16,3% so với cuối năm 2019. Tương ứng với tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 1,86%, tăng 0,23 điểm phần trăm so với cuối năm trước (1,63%).

Kể từ khi dịch bệnh Covid-19 xuất hiện và kéo dài đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh khiến việc cân đối tài chính trở nên khó khăn, nhiều doanh nghiệp mất khả năng trả nợ, hoặc trả chậm. Thời gian vừa qua, Chính phủ và các ngân hàng đã có nhiều động thái tháo gỡ, gia hạn nợ, miễn giảm lãi hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu dịch bệnh vẫn còn diễn biến khó lường, nền kinh tế trên thế giới và trong nước không phục hồi thì chắc chắn nợ xấu sẽ tăng lên.

Như vậy, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, bảo đảm hiệu quả, an toàn hệ thống, an ninh tiền tệ tín dụng đồng thời thông qua tái cơ cấu để hỗ trợ thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội trước tác động của đại dịch COVID-19. Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương để xử lý các vướng mắc kể trên, đặc biệt là việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Đây là điểm mấu chốt để quá trình triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu quả hơn trong thời gian tớin

Tài liệu tham khảo:

  1. Hoàng Công Gia Khanh (2019), Ngân hàng số: Từ đổi mới đến cách mạng, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
  2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014). Quyết định số 22/2014/QĐ-NHNN ngày 4/6/2014 của Ngân hàng Nhà nước về quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các TCTD.
  3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2019). Thông tư số 04/2019/TT-NHNN ngày 29/3/2019 V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 24/2013/TT-NHNN ngày 02/12/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có và cam kết ngoại bảng của ngân hàng phát triển Việt Nam.
  4. Đức Tuân (2020). Thủ tướng: Hệ thống tín dụng cần thực hiện nhiệm vụ kép rất đặc thù. Truy cập tại https://thoibaonganhang.vn/thu-tuong-he-thong-tin-dung-can-thuc-hien-nhiem-vu-kep-rat-dac-thu ngày 15/8/2020.
  5. Đào Vũ (2019). Xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 còn vướng ở đâu? Truy cập tại http://vneconomy.vn/xu-ly-no-xau-theo-nghi-quyet-42-con-vuong-o-dau-20191021175928196.htm, ngày 15/8/2020.
  6. Bùi Dương (2020). Tăng chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu. Truy cập tại http://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/tang-chat-luong-tin-dung-giam-ty-le-no-xau-326562.html, ngày 15/8/2020.
  7. Hà Tâm (2020). Cần luật hóa xử lý nợ xấu. Truy cập tại, https://baodautu.vn/can-luat-hoa-xu-ly-no-xau-d126089.html, ngày 15/8/2020.
  8. Các Website: http://vbpl.vn/, http://lapphap.vn.
THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM