VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập

Tự chủ đại học là xu thế tất yếu của xã hội phát triển và các trường đại học công lập buộc phải thích nghi với cơ chế tự chủ tài chính.

[Infographics] 11 trường đại học Việt Nam vào Bảng xếp hạng châu Á 2021

[Infographics] Dự thảo chuẩn chương trình đào tạo với trình độ đại học

Để tự chủ đại học đi vào cuộc sống…

Giải pháp tăng cường tự chủ đại học ở Việt Nam

Hoạt động trong môi trường mới, các trường đại học công lập cần phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, có như vậy mới có thể phát triển bền vững. Trên cơ sở nhận diện các rào cản đối với công tác quản lý tài chính ở các trường đại học công lập hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp, nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính ở các trường đại học công lập trong bối cảnh thực hiện cơ chế tự chủ.

Đặt vấn đề

Tuy là lĩnh vực ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) nhưng Nhà nước khó có khả năng thực hiện việc chi trả toàn bộ cho giáo dục đại học (GDĐH) trong bối cảnh thu ngân sách gặp không ít khó khăn so với nhu cầu chi tiêu hiện nay.

Nhận thức được vai trò quan trọng của GDĐH và trong bối cảnh nguồn lực NSNN chi cho GDĐH ở trong hạn mức nhất định; trên tinh thần các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP) quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP là 2 văn bản pháp lý cơ bản điều chỉnh cơ chế tự chủ tài chính của các cơ sở GDĐH, trong đó có các trường đại học công lập (ĐHCL). Các văn bản này thể hiện rõ quan điểm chuyển đổi cơ chế quản lý hệ thống GDĐH của nước ta từ mô hình Nhà nước thực hiện sang mô hình Nhà nước giám sát; chủ trương này đúng đắn và phù hợp với xu hướng phát triển GDĐH của thế giới.

Kết quả triển khai cơ chế tự chủ tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công  lập

Trong thời gian qua, cơ chế tự chủ tài chính áp dụng đối với các cơ sở GDĐH công lập đã đạt được nhiều kết quả tích cực, mở ra cơ hội phát triển trên cả khía cạnh quy mô và chất lượng đào tạo, cụ thể như:

Một là, các cơ sở GDĐH có cơ hội mở rộng nguồn thu: Cơ chế tự chủ tài chính cùng với tự chủ về chuyên môn của các cơ sở GDĐH tạo điều kiện cho các trường mở rộng quy mô đào tạo trên cơ sở gia tăng số lượng ngành/chuyên ngành đào tạo và chỉ tiêu đào tạo. Số thu học phí nhờ đó gia tăng. Các cơ sở GDĐH cũng có điều kiện gia tăng số thu từ việc tìm kiếm và triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội...

Mô hình này tạo sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, các sản phẩm khoa học trở nên thiết thực và ứng dụng vào đời sống xã hội. Bên cạnh đó, các cơ sở GDĐH có điều kiện cung cấp dịch vụ gắn với chuyên ngành đào tạo mà xã hội có nhu cầu cao như ngoại ngữ, tin học, kế toán... Số thu từ các hoạt động dịch vụ tăng nhanh và tại không ít cơ sở GDĐH hiện là nguồn thu lớn để cải thiện đời sống vật chất của giảng viên và người lao động.

Hai là, các cơ sở GDĐH chủ động hơn trong quản lý chi tiêu: Công tác quản lý tài chính tại các cơ sở GDĐH công lập từng bước được hoàn thiện và nâng cao thông qua việc tích cực kiện toàn quy chế chi tiêu nội bộ, hoàn thiện nhiều về cơ chế quản lý.

Việc giao quyền cũng tăng tính chủ động, tăng trách nhiệm cho các cơ sở GDĐH công lập và góp phần tăng thêm nguồn lực cho hoạt động phát triển các trường. Các cơ sở GDĐH công lập có điều kiện chủ động điều chỉnh cơ cấu chi theo mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng giảng viên; tăng tỷ lệ chi trực tiếp cho hoạt động đào tạo, gia tăng thu nhập cho giảng viên, giữ người tài.

Ba là, giảm áp lực chi ngân sách cho GDĐH: Xét trên khía cạnh tài chính, nguồn thu của các cơ sở GDĐH công lập về cơ bản gồm có: (i) Kinh phí do NSNN cấp; (ii) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp; (iii) Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật; (iv) Nguồn khác. Trong xu hướng gia tăng mức độ tự chủ tài chính của các cơ sở GDĐH, nguồn thu từ học phí ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70-80% tổng thu của các trường. Phần kinh phí NSNN cấp có xu hướng giảm dần, nhờ đó áp lực chi ngân sách cho GDĐH đã giảm hơn so với trước.

Một số bất cập, hạn chế trong thực hiện tự chủ tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học

Bên cạnh những kết quả đạt được, cơ chế tự chủ tài chính cũng còn tồn tại một số bất cập, cản trở sự phát triển của các cơ sở GDĐH.

Trong xu hướng gia tăng mức độ tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục đại học, nguồn thu từ học phí ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70-80% tổng thu của các trường. Phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp có xu hướng giảm dần, nhờ đó áp lực chi ngân sách cho giáo dục đại học đã giảm hơn so với trước.

Một là, cơ chế tự chủ tài chính còn thiếu tính đồng bộ để tạo môi trường tốt cho các cơ sở GDĐH phát triển: Các cơ sở GDĐH công lập tuy đã được giao tự chủ tài chính, song trên thực tế hoạt động vẫn đang tuân thủ và là đối tượng điều chỉnh của nhiều Luật: Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Đầu tư công, Luật NSNN, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Viên chức và các luật thuế, các Nghị định của Chính phủ và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. Cơ sở pháp lý về tự chủ tài chính đại học có những quy định chưa phù hợp với thực tiễn vận hành, nên quá trình thực hiện nhiều lúc vẫn mang tính hình thức và tạo khó khăn cho các cơ sở GDĐH trong quá trình thực hiện.

Cơ chế tự chủ tài chính hiện nay chủ yếu mới được tiếp cận trên giác độ cơ sở GDĐH, với tư cách là một đơn vị sự nghiệp công lập. Thực tiễn vận hành cho thấy, hiện còn thiếu những quy định pháp lý về tự chủ phù hợp với mô hình quản lý cơ sở GDĐH hiện hành. Tại hầu hết các cơ sở GDĐH đều có viện (hoặc trường trong viện), trung tâm, doanh nghiệp trực thuộc trường; nhiều cơ sở GDĐH có cơ sở GDĐH thành viên, trong cơ sở GDĐH thành viên lại có các trung tâm, doanh nghiệp... Vì vậy, vấn đề quản lý thu, chi của các đơn vị trực thuộc; vấn đề hạch toán và thẩm quyền quyết định của các cơ sở GDĐH chưa được hướng dẫn một cách cụ thể và thống nhất, dẫn đến có nhiều cách hiểu và triển khai trong thực tiễn, tiềm ẩn rủi ro cho các nhà quản trị trường.

Hai là, trong thực tế, hầu hết các cơ sở GDĐH đều gặp phải trường hợp mâu thuẫn về quyền tự chủ tài chính nhưng lại bị giới hạn về mức thu học phí: Học phí là nguồn thu cơ bản của các cơ sở GDĐH trong bối cảnh tự chủ, nguồn thu này phải đủ lớn để trang trải những chi phí mà cơ sở giáo dục thực hiện để cung cấp dịch vụ GDĐH. Tuy vậy, theo quy định hiện hành, các cơ sở GDĐH chỉ được áp dụng mức thu không vượt quá giới hạn tối đa theo quy định của Nhà nước.

Ba là, tình trạng lạm thu tại một số cơ sở GDĐH xuất hiện khá phổ biến: Nhiều cơ sở GDĐH công lập thực hiện tự chủ tài chính bị áp lực tăng thu do NSNN cấp kinh phí giảm, dẫn đến tình trạng thu một số khoản sai quy định, lạm thu các khoản thu ngoài quy định về thu học phí tại Nghị định số 86/2015/NĐ-CP. Một số trường còn dựa vào lợi thế ngành để tăng học phí và tăng chỉ tiêu tuyển sinh mà chưa chú trọng đúng mức đến nâng cao chất lượng đào tạo là mục đích chính của tự chủ đại học.

Bốn là, việc sử dụng nguồn lực tài chính của một số cơ sở GDĐH chưa tích cực, chưa hướng đến mục tiêu chất lượng đào tạo: Việc tự chủ tại các cơ sở GDĐH công lập mới thực hiện được ở góc độ các trường nỗ lực tăng thu từ nguồn thu học phí. Việc tăng nguồn thu học phí chủ yếu để tăng thu nhập cho các giảng viên mà chưa chú trọng tăng chất lượng đào tạo, hiện đại hoá cơ sở vật chất, trường học và ký túc xá. Nhiều cơ sở GDĐH công lập không chú trọng việc tạo lập quỹ học bổng, chưa có chính sách hỗ trợ sinh viên nghèo hiếu học…

Giải pháp phát triển giáo dục đại học trong điều kiện tự chủ tài chính

Nhằm hạn chế những bất cập còn tồn tại, tự chủ tài chính tại các cơ sở GDĐH cần quan tâm tới một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện môi trường tự chủ tài chính đại học: Cơ chế tự chủ nói chung và tự chủ tài chính đại học nói riêng cần được tiếp tục hoàn thiện để hạn chế những vướng mắc trong quá trình thực hiện như chính sách về tiền lương, chính sách học bổng, hỗ trợ học tập; chính sách đầu tư công, chính sách về xã hội hoá, thành lập doanh nghiệp trực thuộc… và hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến tự chủ tài chính phù hợp với mô hình quản lý các cơ sở GDĐH, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật.

Các trường đại học nên được giao quyền tự chủ hơn trong quản lý thu, chi tài chính phù hợp theo quy định. Cơ chế tự chủ cần được thực hiện trong môi trường công khai, minh bạch các hoạt động thu, chi tài chính và các hoạt động chuyên môn liên quan đến thu, chi tài chính như việc mở ngành/chuyên ngành đào tạo, công tác tuyển sinh, hoạt động cung cấp dịch vụ...

Nhà nước cũng cần quy định khung chi tiêu các nguồn thu sự nghiệp của các cơ sở GDĐH với các nội dung chủ yếu: Tỷ trọng chi cho con người, tỷ trọng chi cho xây dựng cơ sở vật chất, tỷ trọng chi nghiên cứu khoa học, tỷ trọng chi mua sắm trang thiết bị hỗ trợ phát triển chuyên môn... Cùng với mở rộng quyền tự chủ, hoạt động thanh tra, kiểm toán nội bộ được tăng cường nhằm đảm bảo tính chính xác, minh bạch và công bằng trong quản lý, sử dụng tài chính của các cơ sở GDĐH công lập. 

Thứ hai, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến và thống nhất nhận thức về cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở GDĐH công lập: Cơ chế tự chủ tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập đã được áp dụng nhiều năm, nhưng cách hiểu còn có sự khác biệt và chưa thống nhất. Nhiều người còn nhầm lẫn giữa “tự chủ” với “tự lo”. Sự không thống nhất trong nhận thức đang là lực cản hiện hữu trong việc hoạch định chính sách và trong triển khai cơ chế tại các trường đại học. Công tác tuyên truyền cần tiếp tục được duy trì và đổi mới cách thức thực hiện để các cấp, các ngành, các cơ sở giáo dục và các chủ thể có liên quan hiểu rõ và cùng thực hiện. Có như vậy cơ chế tự chủ tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập mới có ý nghĩa và đạt hiệu quả.

Thứ ba, đẩy nhanh lộ trình và sớm hoàn thiện việc tính đúng, tính đủ chi phí trong giá dịch vụ GDĐH: Việc tính đúng, tính đủ chi phí trong giá dịch vụ GDĐH đã được quy định chi tiết tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015. Theo đó, đến năm 2020 thực hiện tính đúng, tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định vào giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN. Để hoàn thiện lộ trình này cần có sự vào cuộc và thống nhất hành động của các cấp, các ngành, đặc biệt cần có sự hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo để công tác này được triển khai đồng bộ.

Thứ tư, nâng cao trình độ và năng lực quản lý tài chính của các cơ sở GDĐH: Quá trình tự chủ tài chính cũng đặt ra nhiều rủi ro cho các nhà quản trị trường trong việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ quản lý tài chính tại các cơ sở GDĐH cần không ngừng được đào tạo, nâng cao trình độ để thực hiện được và thực hiện đúng các nghiệp vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2006), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;

2. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với một số cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014-2017;

3. Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập;

4. Chính phủ (2015), Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020-2021.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM