Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng vùng Tây Nguyên

Khu vực Tây Nguyên gồm 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) với tổng diện tích 54.641,0 km², chiếm 16,8% diện tích cả nước; không chỉ là một cao nguyên duy nhất mà bao gồm hệ thống cao nguyên liền kề với độ cao trung bình từ 500 - 1.500 m. Tây Nguyên có trên 30% dân số là người dân tộc thiểu số (thuộc 47 dân tộc khác nhau). Xét về khía cạnh du lịch, Tây Nguyên là vùng có tiềm năng lớn để áp dụng mô hình du lịch cộng đồng một cách rộng rãi.

Khu vực Tây Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và văn hóa đa dạng bản sắc
Khu vực Tây Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và văn hóa đa dạng bản sắc

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng Tây Nguyên

Khu vực Tây Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và văn hóa đa dạng bản sắc... là những yếu tố cộng hưởng để phát triển các loại hình du lịch, trong đó có du lịch cộng đồng (DLCĐ). Cụ thể:

Khu vực có nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống: Tây Nguyên hiện nay là nơi cư trú của 47 dân tộc khác nhau bao gồm: Cả nhóm dân tộc bản địa sinh sống lâu đời và nhóm dân tộc di cư từ nơi khác đến. So sánh với các vùng khác cho thấy, cơ cấu dân tộc ở Tây Nguyên hết sức đa dạng, tạo nên bức tranh tương phản lớn đối với khách du lịch quốc tế và trong nước, những người sẵn sàng chi trả tiền để được trải nghiệm những không gian văn hóa khác biệt.

Khu vực có nhiều nhóm xã hội thuộc diện nghèo: Dựa vào tiêu chí lựa chọn trên, Tây Nguyên là khu vực đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của các tổ chức phi chính phủ (hỗ trợ ban đầu cho hoạt động du lịch từ đó kích thích phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập và tạo việc làm cho người dân địa phương. DLCĐ có thể đáp ứng được nhiều khác nhau trong cùng một giai đoạn như mục tiêu xóa đói giảm nghèo; nâng cao chất lượng đời sống văn hóa - tinh thần của người dân; bảo tồn nền văn hóa truyền thống; tạo việc làm tại chỗ...

Khu vực có khung cảnh thiên nhiên tương đối nguyên sơ, có vùng núi cao, cao nguyên và rừng nhiệt đới: Yếu tố môi trường nguyên sơ, trong lành khi đặt cùng nguồn tài nguyên du lịch văn hóa (các làng bản người dân tộc thiểu số, phong tục, tập quán, trang phục, nề nếp sinh hoạt) tạo ra một thế mạnh rất cạnh tranh đối với khu vực này trong phát triển DLCĐ so với khu vực khác. Sản phẩm du lịch của vùng Tây Nguyên mang tính đặc thù so với địa phương khác, gây ấn tượng cho du khách và định hình sản phẩm của các công ty lữ hành.

Khu vực có những nghề thủ công truyền thống rất độc đáo: Ở Tây Nguyên, các nghề thủ công truyền thống của dân tộc ít người hiện nay vẫn còn đang tồn tại và gắn bó chặt chẽ với đời sống của người dân như nghề dệt vải thổ cẩm của người Ê Đê, nghề bánh tráng ở Buôn Đôn, nghề rèn, mây tre đan…

Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Tây Nguyên

Kết quả ban đầu

Tại Tây Nguyên, DLCĐ trong khu vực cho thấy những kết quả khả quan như: Tại Đắk Lắk, buôn Ako Dhông còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa và kiến trúc của người Êđê, đã được tỉnh Đắk Lắk chọn quy hoạch làm điểm DLCĐ từ năm 2019. Theo quy hoạch, điểm DLCĐ buôn Akô Dhông rộng hơn 55ha, quy mô dân số khoảng 2.200 - 3.000 khẩu, trong đó hơn 30% người Ê Đê ở trong buôn sinh sống bằng nghề dệt thổ cẩm, làm rượu cần, chế tác đồ thủ công mỹ nghệ và mở dịch vụ giải trí văn hóa - văn nghệ truyền thống, phục vụ du khách (H Xíu, 2021).

Quá trình phát triển DLCĐ tại Tây Nguyên cũng đặt ra một số khó khăn, hạn chế như: Các tỉnh Tây Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa sinh thái, tuy nhiên lĩnh vực này chưa hấp dẫn đối với các nhà đầu tư vì cơ chế, chính sách về đầu tư chưa có sự đột phá khác biệt so với các vùng khác. Trong khi đó, điều kiện về địa lý, cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông, nguồn nhân lực, dịch vụ phụ trợ... còn nhiều khó khăn, hạn chế.

Trong năm 2020, ngành Văn hóa đã tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo kiến thức xây dựng, phát triển sản phẩm DLCĐ, dịch vụ homestay (bao gồm nâng cao kỹ năng giao tiếp, marketing, chăm sóc và phục vụ khách du lịch; tổ chức, dàn dựng chương trình văn nghệ dân gian, văn hóa cồng chiêng phục vụ du lịch); bồi dưỡng kỹ năng chế biến món ăn phục vụ khách du lịch...

Tại Gia Lai có 34 dân tộc anh em sinh sống với số dân là người dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm hơn 46%. Nếu như trước đây người dân chỉ quen với công việc đồng án, lên nương lên rẫy thì vài năm trở lại đây, người dân đã tiếp cận và làm quen với công việc khá mới mẻ là làm du lịch ngay tại buôn làng của mình. Mô hình DLCĐ này không chỉ giúp người dân có thêm thu nhập, mà còn thay da đổi thịt diện mạo nông thôn ở nhiều địa phương trong tỉnh, đồng thời, đem đến cho du khách nhiều trải nghiệm thú vị nơi buôn làng.

Một số ngôi làng truyền thống nằm trong danh sách để Tỉnh tập trung đầu tư, xây dựng mô hình DLCĐ gồm: làng nghề truyền thống (xã Glar), Kon Mahar và làng Kon Pơ Dram (xã Hà Đông, huyện Đak Đoa), làng Ốp (TP. Pleiku), làng kháng chiến Stơr (xã Tơ Tung, huyện Kbang), làng Kép (xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Pah), làng Vai Viêng (xã Ayun, huyện Mang Yang), làng Nú (xã Ia Khai, huyện Ia Grai). Một số làng khác không trong danh sách này nhưng cũng đã được được giới lữ hành đánh giá cao trong các chuyến khảo sát du lịch..

Với quyết tâm xây dựng thành công mô hình DLCĐ trong chiến lược phát triển “ngành công nghiệp không khói” trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành Du lịch tỉnh Gia Lai đã mở các khóa học tập huấn cho cán bộ quản lý, phụ trách du lịch trên địa bàn Tỉnh. Mục tiêu là đào tạo được đội ngũ cán bộ, quản lý có đủ kiến thức về DLCĐ; đồng thời, có năng lực, trình độ để trở thành những “đào tạo viên” về DLCĐ, hướng dẫn cho người dân trong các làng cách làm du lịch dựa vào chính bản thân họ (Nguyên Bình, 2019).

Tại Lâm Đồng: Đầu năm 2017, Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng được giao nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng” với việc tuyển chọn đơn vị thực hiện 2-3 mô hình du lịch, trong đó có ít nhất 1 mô hình khai thác các giá trị văn hóa bản địa Lâm Đồng. Đồng thời, nghiên cứu, đánh giá thực trạng, xác định tiềm năng, làm cơ sở đề xuất giải pháp khả thi để phát triển bền vững DLCĐ trên địa bàn Tỉnh.

Mặc dù, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển DLCĐ, song bên cạnh đó, Lâm Đồng vẫn đang vướng mắc nhiều vấn đề để triển khai loại hình du lịch này. Bên cạnh sự hợp tác của người dân chưa thực sự nhiệt tình thì việc chưa có chính sách phù hợp cũng là một khó khăn cần được giải quyết. Theo các chuyên gia phân tích, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã có một vài điểm tổ chức DLCĐ nhưng chủ yếu là tự phát, chưa có chương trình cụ thể (Việt Quỳnh, 2017). Để phát triển kinh tế địa phương, tôn trọng những giá trị bản địa, giá trị cộng đồng thì loại hình du lịch có trách nhiệm sẽ là giải pháp để phát triển DLCĐ đúng hướng và bền vững. Việc đảm bảo người dân được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương chính là nguyên tắc để loại hình DLCĐ phát triển bền vững.

Một số khó khăn, hạn chế

Quá trình phát triển DLCĐ tại Tây Nguyên cũng đặt ra một số khó khăn, hạn chế như: Các tỉnh Tây Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa sinh thái, tuy nhiên lĩnh vực này chưa hấp dẫn đối với các nhà đầu tư vì cơ chế, chính sách về đầu tư chưa có sự đột phá khác biệt so với các vùng khác. Trong khi đó, điều kiện về địa lý, cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông, nguồn nhân lực, dịch vụ phụ trợ... còn nhiều khó khăn, hạn chế.

Các khu, điểm du lịch hầu như cách xa khu trung tâm, thời gian di chuyển quá lâu trong khi loại hình dịch vụ đơn điệu, chưa thật đặc sắc để giữ chân du khách ở lại... Bên cạnh đó, chương trình liên kết vùng trong phát triển du lịch trong thời gian qua còn hạn chế, vẫn còn tình trạng mạnh tỉnh nào nấy làm mà chưa có sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau...

Một số đề xuất chính sách phát triển du lịch cộng đồng

Để phát triển DLCĐ đúng hướng, khai thác tốt hệ thống tài nguyên du lịch phong phú tại Tây Nguyên, tác giả đề xuất giải pháp nhằm phát triển DLCĐ góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của khu vực Tây Nguyên:

Thứ nhất, để phát triển du lịch văn hóa sinh thái trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở Tây Nguyên, Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ các tỉnh trong khu vực về kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông. Các tỉnh Tây Nguyên cần đẩy mạnh chương trình liên kết vùng trong phát triển du lịch để khai thác hiệu quả các tuyến du lịch trọng điểm như “Con đường xanh Tây Nguyên”, “Con đường huyền thoại - Đường mòn Hồ Chí Minh”, hợp tác phát triển du lịch khu vực tam giác Việt Nam - Lào - Campuchia... để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Tây Nguyên.

Thứ hai, trên thực tế, văn hóa Tây Nguyên gắn bó chặt chẽ với không gian - môi trường tự nhiên đã tồn tại từ ngàn đời tại đây - đó là môi trường rừng. Hiện nay, có một số xu hướng biến đổi văn hóa hiện đại gây ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào bản địa và xu hướng biến đổi này có nguyên nhân trực tiếp đến từ việc phá rừng, phá vỡ môi trường cho lối sống cộng đồng của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Việc bảo vệ rừng nguyên sinh cần được quan tâm để gìn giữ môi trường phát triển văn hóa cho người dân bản địa. Trước tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu ngày nay, nhu cầu bảo vệ rừng càng cần được quan tâm nhiều hơn bởi tác động của việc phá rừng ngày càng lớn và ảnh hưởng ở phạm vi rộng hơn địa bàn Tây Nguyên rất nhiều.

Thứ ba, xây dựng mô hình bản làng DLCĐ theo cả tiêu chí cứng và tiêu chí mềm: (tiêu chí cứng bao gồm những điều kiện cơ bản để bản làng xây dựng và phát triển hoạt động du lịch theo hướng cộng đồng); tiêu chí mềm là những dịch vụ bổ sung cần phải có như việc bán đồ lưu niệm, nhóm người có khả năng tham gia thị trường lao động du lịch, dịch vụ bưu chính viễn thông và những hoạt động hỗ trợ cho du lịch khác.

Thứ tư, có cơ chế và khuyến khích người dân bản địa tham gia nhiều hơn vào công tác lập quy hoạch phát triển du lịch, tổ chức xây dựng sản phẩm du lịch và trực tiếp phục vụ khách du lịch, nhằm phân phối lợi ích nghiêng về phía cộng đồng. Có như vậy, DLCĐ tại Tây Nguyên mới thỏa mãn yêu cầu xóa đói giảm nghèo, tạo công việc, thu nhập và nâng cao cao đời sống người dân như mục tiêu của các chương trình về nông thôn của Đảng, Nhà nước ta đang thực hiện.

Thứ năm, nâng cao trình độ và năng lực của người dân bản địa thông qua tổ chức những khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng, nghiệp vụ du lịch…

Thứ sáu, thiết kế logo riêng cho hoạt động du lịch Tây Nguyên và DLCĐ ở làng bản: Các logo cần phải được dán trên các phương tiện vận chuyển, đại lý lữ hành và ở vị trí dễ thấy tại các cơ sở homestay. Logo cần nêu bật được đặc trưng tài nguyên DLCĐ, du lịch làng bản.

Thứ bảy, liên kết giữa các công ty lữ hành trong và ngoài tỉnh với đại diện chương trình phát triển DLCĐ tại cơ sở. Bước đầu UBND xã, huyện có thể làm trung gian giữa bản làng với công ty lữ hành, sau đó chuyển giao công việc lại cho những người, nhóm người đại diện trong bản.

Thứ tám, để phát triển du lịch văn hóa sinh thái vùng Tây Nguyên, cần nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của từng địa phương trong vùng; nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch đặc thù mang đậm nét Tây Nguyên.

Thứ mười, du lịch Tây Nguyên cần mở rộng liên kết với các tỉnh miền Trung và vùng Đông Nam Bộ, TP. Hồ Chí Minh để kết nối thành các tour, tuyến tạo ra thị trường du lịch rộng lớn, có tác dụng kích cầu du lịch nhằm thu hút khách cho du lịch vùng Tây Nguyên, đặc biệt là hướng tới thu hút lượng khách quốc tế đến với Tây Nguyên.

Tài liệu tham khảo:

1. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 2162/QĐ-TTg, ngày 11/11/2013 phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030";

2. Việt Quỳnh (2017), Du lịch cộng đồng hấp dẫn du khách, http://www. baolamdong.vn/dulich/201702/du-lich-cong-dong-hap-dan-du-khach-2784680/);

3. Nguyên Bình (2019), Khởi động Du lịch cộng đồng ở Gia Lai, https://gialai. gov.vn/tin-tuc/khoi-dong-du-lich-cong-dong-o-gia-lai.62081.aspx;

4. H Xíu (2021), Triển vọng Du lịch cộng đồng ở Đắk Lắk, https://vov.vn/du-lich/ trien-vong-du-lich-cong-dong-o-dak-lak-833508.vov;

5. http://cand.com.vn/Chuyen-dong-van-hoa/Du-lich-cong-dong-o-Tay- Nguyen-con-bo-ngo-570338/.

(*) ThS. Hà Thị Kim Duyên - Trường Đại học Tây Nguyên.

(**) Bài đăng Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 6/2021.