Phát triển bền vững thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Theo Ngô Hải/thitruongtaichinhtiente.vn

Trước thực trạng nhiều doanh nghiệp phát hành với lãi suất cao, công bố thông tin sai sự thật… dẫn đến tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, cho thị trường, giới chuyên môn khuyến nghị cơ quan quản lý cần tìm ra giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn những rủi ro tương tự có thể xảy ra trong tương lai, qua đó góp phần đưa thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển lành mạnh, trở thành kênh huy động vốn hiệu quả.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Kênh dẫn vốn quan trọng cho doanh nghiệp

Các số liệu thống kê cho thấy, nếu như năm 2017 quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 4,9% GDP, thì đến năm 2021 con số này đã tăng lên tới 16,6% GDP.

Phát hành trái phiếu để huy động vốn đã dần trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp trong bối cảnh tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thu hẹp; các ngân hàng từng bước giảm tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo quy định.

Phát biểu tại Tọa đàm với chủ đề "Phát triển bền vững thị trường trái phiếu doanh nghiệp" do báo Người Lao Động tổ chức ngày 19/4, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV đánh giá, cần nhìn nhận đúng vai trò của trái phiếu doanh nghiệp. Đây là kênh huy động vốn trung và dài hạn rất quan trọng. Hàng năm hệ thống ngân hàng đưa ra nền kinh tế 1,4 - 1,5 triệu tỷ đồng, 45% trong đó là vốn trung dài hạn. Như vậy, nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế rất lớn.

Ước tính giai đoạn 2022-2025, nền kinh tế cần 3,15 triệu tỷ đồng/năm để đầu tư toàn xã hội, trong khi vốn nhà nước chỉ chiếm 25%-26%, còn lại phải huy động nguồn lực bên ngoài. Từ đó cho thấy, vai trò quan trọng của thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng. Khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển sẽ góp phần đa dạng hoá kênh đầu tư, đa dạng hoá sản phẩm tài chính.

Dù đã có những bước phát triển, tuy nhiên, TS. Cấn Văn Lực cũng cho rằng, thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay vẫn còn rất non trẻ, mới chỉ hơn 10 năm và chỉ phát triển tương đối nhanh, mạnh trong khoảng 5 năm trở lại đây.

Vốn huy động qua thị trường chứng khoán gồm cả cổ phiếu và trái phiếu tương đương 26% tổng lượng vốn cung ứng ra nền kinh tế. Trái phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng 22,7% tổng lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế mỗi năm, còn nguồn vốn huy động qua phát hành cổ phiếu chỉ chiếm 3,5% tổng lượng vốn đưa ra nền kinh tế.

Do đó, thị trường trái phiếu còn nhiều dư địa phát triển, đặc biệt nếu so với Trung Quốc là 35,7%; Hàn Quốc 87% GDP; Singapore khoảng 36,5% GDP, Thái Lan khoảng 25% GDP…

Ông Phùng Xuân Minh, Tổng Giám đốc Công ty CP Sài Gòn Phát Thịnh Rating (Saigon Raiting) cho rằng, trái phiếu doanh nghiệp là thị trường tài chính tiềm năng, kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

“Chúng tôi đồng tình nhận định thị trường này còn quá mới và non trẻ. Với kinh nghiệm 12 năm khảo sát một số thị trường quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia… chúng tôi nhận thấy những gì chúng ta đã trải qua cũng là những "lỗi" mà họ mắc phải từ 20-30 năm trước khi còn ở thị trường sơ khai. Thị trường bản thân không có lỗi, chính sách do chúng ta làm nên”, ông Phùng Xuân Minh nêu quan điểm.

Nhưng đang bộc lộ nhiều rủi ro, gây bất ổn thị trường

Dù đang dần trở thành kênh dẫn vốn quan trọng cho doanh nghiệp nhưng thời gian qua đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp phát hành trái phiếu với lãi suất cao gấp đôi lãi suất tiền gửi để thu hút vốn. Doanh nghiệp huy động được vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư… nhưng tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, cho thị trường.

Theo ông Huỳnh Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông Á, việc doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ không cần xin phép, chỉ lập phương án, kêu gọi đầu tư là phát hành như thời gian qua cho thấy hình thức phát hành này quá dễ.

Trong khi đó phát hành đại chúng phải thông qua Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, phải được phê duyệt phương án phát hành, khó khăn hơn nhiều. Vì vậy, hầu hết doanh nghiệp bất động sản đều chọn phát hành riêng lẻ và chọn kênh phân phối tiếp theo để chuyển tiếp trái phiếu cho nhà đầu tư cá nhân… Chưa kể, câu chuyện hậu kiểm là doanh nghiệp phát hành có sử dụng nguồn tiền đúng mục đích không lại là chuyện khác.

“Cần quy định để kiểm soát được điều kiện phát hành trái phiếu, nếu không các tập đoàn đều không đứng ra phát hành mà chỉ sử dụng công ty con, là hình thức mượn kẽ hở của pháp luật”, ông Huỳnh Anh Tuấn kiến nghị.

Trong khi đó, ThS. Nguyễn Anh Vũ, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh lại bày tỏ nhiều điều còn đáng lo ngại hơn khái niệm “3 không: không tín nhiệm, không bảo lãnh thanh toán, không tài sản bảo đảm”, với doanh nghiệp phát hành trái phiếu.

Nếu trái phiếu doanh nghiệp được ngân hàng bảo lãnh thì nhà đầu tư có phần yên tâm thêm. Tuy nhiên, nguyên tắc cho vay nói chung và đầu tư trái phiếu nói riêng thì tài sản bảo đảm không phải yếu tố duy nhất hay quan trọng hàng đầu để xem xét mua trái phiếu, mà quan trọng nhất là đánh giá được tình hình tài chính, hoạt động của doanh nghiệp.

“Tôi lo ngại ngoài "3 không" thì còn có cái "không" thứ 4, thứ 5 khác, như không có năng lực tài chính tốt, dòng tiền, phương án kinh doanh không khả thi, dòng vốn không đúng mục đích… Những điều này đôi khi còn đáng lo hơn việc không có tài sản bảo đảm”, ThS. Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh.

Đánh giá tín dụng, xếp hạng tín nhiệm sẽ giúp thị trường phát triển lành mạnh

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh 'chia lửa' cho thị trường ngân hàng. Do đó, TS. Lê Anh Tuấn, Giám đốc đầu tư vốn cổ phần Quỹ Dragon Capital cho rằng, khi kiểm tra giám sát không nên làm quá chặt hoặc quá lỏng mà cần có cơ chế thị trường để họ tự điều tiết, để nhà đầu tư thấy được rủi ro nằm ở đâu.

Vậy làm sao để kiểm soát?. Trả lời câu hỏi này, TS. Lê Anh Tuấn cho rằng, gần đây, có khoảng 2-3 công ty được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước cấp phép cho đánh giá tín dụng, xếp hạng tín nhiệm.

“Tôi cho rằng ở điều kiện tối thiểu nhất của trái phiếu phát hành doanh nghiệp, cần đánh giá tín dụng. Thậm chí bắt buộc tất cả những doanh nghiệp phát hành trái phiếu đều bắt buộc phải đánh giá cơ chế tín dụng từ những tổ chức được cấp phép này”, TS. Lê Anh Tuấn nêu quan điểm.

Cùng chung quan điểm, TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị cần phải khuyến khích hình thành các hãng xếp hạng tín nhiệm, như ở Singapore, Hàn Quốc… Bởi lẽ, nếu đưa ra bài toán xếp hạng tín nhiệm mà lại có quá ít công ty xếp hạng tín nhiệm, năng lực của họ cũng chưa bảo đảm năng lực thị trường hiện nay thì phải làm sao? Do đó, bài toán này cần phải cân nhắc, cho phép thành lập nhiều công ty xếp hạng tín nhiệm hơn, rút ngắn thời gian xếp hạng để không làm mất cơ hội của doanh nghiệp.

“Hiện nay thị tường trái phiếu doanh nghiệp cần sẵn sàng 3 chủ thể quan trọng đáp ứng được nhu cầu, gồm: nhà nước định hướng quản lý, tiền kiểm là khâu quan trọng; minh bạch thông tin của tổ chức xếp hạng tín nhiệm; sự tuân thủ của các chủ thể trên thị trường (nhà phát hành, tổ chức xếp hạng…).

Trong đó, nhà nước cần có cơ chế để tạo điều kiện cho chủ thể tham gia thị trường có nhu cầu phát triển, nâng cao văn hoá xếp hạng tín nhiệm… Do đó, việc góp ý cải thiện chất lượng, hiệu quả của việc xây dựng luật hiện nay là điều rất quan trọng”, ông Phùng Xuân Minh bày tỏ.

Nêu ý kiến nhằm góp phần đưa thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển bền vững, TS. Lê Đạt Chí, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trong lộ trình phát triển kinh tế của Việt Nam đều nói rất nhiều về các trung tâm tài chính quốc tế, nên việc siết chặt thị trường nợ không phù hợp với xu hướng của nền kinh tế. Với xếp hạng tín nhiệm là yếu tố quan trọng nhưng không phải tất cả các nước đều bắt buộc, còn nếu khuyến khích thì ai là người trả phí, cũng cần cân nhắc khi sửa đổi quy định.

Cũng liên quan đến xếp hạng tín nhiệm, TS. Lê Đạt Chí cho biết, quy định Nghị định số 153/2020/NĐ-CP hiện nay ở chưa đủ, chưa đặt nặng vai trò trách nhiệm, chuẩn mực, đạo đức trong hành nghề đánh giá tín nhiệm.

“Do đó, cần phải có Luật, để nhà đầu tư có thể khiếu nại, khởi kiện đơn vị xếp hạng tín nhiệm trong trường hợp họ làm không đúng chuẩn mực. Muốn phát triển thị trường nợ thì phải nâng lên thành luật”, TS. Lê Đạt Chí nhấn mạnh.