VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585
WB: Kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc trong năm 2022 và thương mại xanh sẽ tạo ra nhiều cơ hội

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

WB: Kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc trong năm 2022 và thương mại xanh sẽ tạo ra nhiều cơ hội

Kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc trong năm 2022 với tăng trưởng GDP dự báo tăng lên 5,5% so với 2,6% năm 2021, nhận định được đưa ra trong Báo cáo Điểm lại Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới (WB).

Kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc bứt phá trong năm 2022

Kinh tế Việt Nam bị tác động bởi nền kinh tế toàn cầu hậu COVID-19

Ngân hàng Thế giới lo ngại về nguy cơ “hạ cánh cứng” ở các nền kinh tế đang phát triển

10 nền kinh tế châu Á nắm giữ 1/5 tài sản toàn cầu

Với giả định đại dịch COVID-19 sẽ được kiểm soát trong và ngoài nước, báo cáo của WB nhận định khu vực dịch vụ của Việt Nam sẽ dần phục hồi khi người tiêu dùng và nhà đầu tư lấy lại niềm tin, trong khi lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo được hưởng lợi nhờ nhu cầu ổn định từ Mỹ, Liên minh châu Âu và Trung Quốc. 

Bên cạnh đó, kinh tế cũng sẽ phục hồi một phần nhờ chính sách tài khóa được nới lỏng hơn, ít nhất là trong nửa đầu năm 2022.

Trong bối cảnh kinh tế khởi sắc hơn, tăng trưởng GDP của Việt Nam được dự báo ở mức 5,5%. Thâm hụt ngân sách và nợ công được kỳ vọng ​​sẽ giữ ổn định, với tỷ lệ nợ trên GDP dự kiến ​​là 58,8%, thấp hơn nhiều so với mức trần theo quy định. 

Lạm phát dự kiến vẫn được duy trì dưới chỉ tiêu 4% của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Trong trung hạn, nền kinh tế được dự báo bắt đầu quay về lộ trình tăng trưởng trước COVID vào năm 2023, khi nhu cầu trong nước phục hồi đầy đủ và không có các cú sốc mới.

Một số chỉ số kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2019 – 2023 theo báo cáo của WB. Nguồn: TCTK, Bộ Tài chính, NHNN, IMF và tính toán của cán bộ WB.

Tuy nhiên, Báo cáo của WB cũng lưu ý triển vọng nêu trên vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro, đặc biệt là diễn biến chưa rõ ràng của đại dịch. Sự bùng phát của các biến thể mới có thể dẫn đến việc phải tái áp đặt các biện pháp giãn cách xã hội, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế. Nhu cầu trong nước yếu hơn kỳ vọng ​có thể ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của Việt Nam.

Ngoài ra, nhiều đối tác thương mại của Việt Nam đang phải đối mặt với dư địa tài khoá và tiền tệ bị thu hẹp, có thể sẽ hạn chế khả năng tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế của các nước này nếu cuộc khủng hoảng kéo dài. Điều này có thể làm chậm sự phục hồi toàn cầu và làm suy yếu nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Các chính sách ứng phó cẩn trọng có thể giảm thiểu những rủi ro trên. Các biện pháp về chính sách tài khóa có thể hỗ trợ tổng cầu trong nước, trong đó có tạm thời giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng (VAT) và tăng chi cho y tế và giáo dục.

Các hỗ trợ dành cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng cần có quy mô lớn hơn và tập trung hơn. Các chương trình an sinh xã hội cần xác định đúng các nhóm đối tượng cần trợ giúp và triển khai thực hiện hiệu quả hơn để giải quyết những hậu quả xã hội nặng nề và không đồng đều của cuộc khủng hoảng. Rủi ro đang gia tăng trong khu vực tài chính cần được giám sát chặt chẽ và chủ động giải quyết.

Khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi sau đại dịch COVID-19 và khi chính quyền các cấp bắt tay vào triển khai Chiến lược phát triển Kinh tế - xã hội 2021 – 2030 hướng tới phát triển bền vững hơn, câu hỏi quan trọng được đặt ra là thương mại có vai trò gì trong quá trình chuyển đổi đó.

Mặc dù thành công trong xuất khẩu hàng hóa đã và đang là lợi thế của quốc gia trong hai thập kỷ qua, nhưng cũng mang lại không ít thách thức. Lĩnh vực xuất khẩu (nông nghiệp, sản xuất) có lượng phát thải lớn vì sử dụng các công nghệ sử dụng tốn năng lượng, đồng thời sử dụng dịch vụ vận tải vốn cũng là ngành phát thải cao.

Trong khi đó, các cam kết trong nước và toàn cầu về giảm khí thải nhà kính sẽ ảnh hưởng đến cả cung và cầu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Về cung, cơ cấu và giá trị các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đều dễ tổn thương trước các tác động của biến đổi khí hậu. Về cầu, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào các đối tác thương mại lớn và người tiêu dùng, với yêu cầu ngày càng cao về quy trình sản xuất, hàng hóa và dịch vụ, hướng tới xanh, sạch và thân thiện với môi trường hơn.

Với tiêu đề “Không còn thời gian để lãng phí: Những thách thức và cơ hội đối với phát triển thương mại xanh tại Việt Nam”, báo cáo của WB nhấn mạnh cần ưu tiên xanh hóa ngành thương mại. Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm phát thải các-bon trong các hoạt động liên quan đến thương mại.

Tuy nhiên, Việt Nam cần hành động quyết liệt hơn nữa để ứng phó với áp lực gia tăng từ các thị trường xuất khẩu chính, khách hàng và công ty đa quốc gia với yêu cầu những sản phẩm và dịch vụ phải xanh và sạch hơn.

“Thương mại sẽ là hợp phần chính trong chương trình hành động vì khí hậu của Việt Nam trong những năm tới”, bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam cho biết.

“Thúc đẩy thương mại xanh sẽ không chỉ giúp Việt Nam thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà còn giữ được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đảm bảo thương mại tiếp tục là nguồn tạo thu nhập và việc làm quan trọng”.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM