VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585
Chính sách thuế tác động thế nào đến tăng trưởng kinh tế?

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Chính sách thuế tác động thế nào đến tăng trưởng kinh tế?

Chính sách thuế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Vấn đề đặt ra là chính sách thuế tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế, thu nhập và chi tiêu của người dân, doanh nghiệp cũng như các vấn đề xã hội khác như việc làm, môi trường hay bình đẳng xã hội.

Cải cách, hoàn thiện chính sách thuế, hải quan, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp

Đề xuất điều kiện doanh nghiệp chế xuất được hưởng chính sách thuế với khu phi thuế quan

Cần ban hành Nghị quyết của Quốc hội về chính sách thuế GTGT với mặt hàng phân bón

Cục Thuế Lạng Sơn cập nhật chính sách thuế mới và đối thoại với doanh nghiệp

Song, để đánh giá mức độ tác động thì mô hình nghiên cứu áp dụng như thế nào đang là một câu hỏi lớn cho Việt Nam. Bài viết đánh giá tác động của chính sách thuế đến phát triển kinh tế - xã hội tại một số quốc gia, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc đánh giá chính sách, củng cố thêm cơ sở để điều chỉnh và điều hành chính sách phù hợp với thực tiễn.

Tác động của chính sách thuế đối với phát triển kinh tế

Tại một số quốc gia phát triển

Tosun và Abizahed (2005) đã sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách thuế và tăng trưởng kinh tế ở 21 quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) trong giai đoạn 1980-1999. Kết quả chỉ ra rằng, có mối quan hệ giữa thuế và tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, nghiên cứu tìm thấy tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê của thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đến tăng trưởng kinh tế của nhóm nước này. Tuy nhiên, mức độ tác động của các loại thuế là khác nhau đến tăng trưởng kinh tế (tính trên GDP bình quân đầu người).

Szarowska (2010) nghiên cứu về những thay đổi về thuế và tác động của chúng đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước Liên minh châu Âu (EU) thông qua sử dụng dữ liệu bảng có điều chỉnh hàng năm của 24 quốc gia thuộc EU trong giai đoạn 1995-2008 dựa trên tổng thay đổi hạn ngạch thuế đối với tăng trưởng GDP. Kết quả chỉ ra tác động nghịch chiều và có ý nghĩa thống kê của thuế đối với tăng trưởng GDP. Cụ thể, tăng tổng hạn ngạch thuế lên 1% sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP 0,29%, trong khi đó, nếu cắt giảm hạn ngạch thuế 1% sẽ làm tăng GDP thêm 0,43%.

Một nghiên cứu khác của Rudolf (2015) đánh giá tác động của từng loại thuế riêng lẻ đến tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng ở các quốc gia thành viên OECD giai đoạn 2000-2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thuế TNDN, TNCN và thuế an sinh xã hội có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.

Tại một số quốc gia ở châu Á

Ihtsham U.H Padda và Naeem Akram (2009) đã nghiên cứu tác động của thuế suất đến tăng trưởng kinh tế tại 03 quốc gia Nam Á là Sri Lanka, Ấn Độ và Pakistan. Với dữ liệu thu thập trong giai đoạn 1973-2008, sử dụng GDP đầu người là thang đo cho tăng trưởng kinh tế, các tác giả đã chỉ ra rằng, thuế suất chỉ có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn.

Taha và cộng sự (2011) chứng minh được quan hệ đồng liên kết trong dài hạn giữa số thu thuế và tốc độ tăng trưởng kinh tế tại quốc gia trong khu vực Đông Nam Á trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2009. Bên cạnh đó, mô hình hiệu chỉnh sai số cũng được nhóm tác giả đưa vào nghiên cứu để ước lượng được mức độ điều chỉnh của mức thu thuế trong ngắn hạn nhằm đạt được mức thu thuế ổn định trong dài hạn, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Mô hình nghiên cứu này cho thấy, mối quan hệ tác động qua lại giữa chính sách thuế và tăng trưởng kinh tế, vì vậy, phương pháp phân tích nhân quả để kiểm định mối quan hệ này có thể được áp dụng trong trường hợp của Việt Nam.

Tác động của chính sách thuế đến đời sống xã hội

Rất khó để đánh giá trực tiếp tác động của chính sách thuế đến đời sống xã hội, qua khảo lược các nghiên cứu trước đây, tác giả đã chia nhóm các yếu tố phản ánh đời sống xã hội thành 03 tiêu chí: Môi trường, việc làm và tình trạng đói nghèo. Cụ thể:

Tác động của chính sách thuế đến môi trường

Trong giai đoạn hiện nay, các Chính phủ bắt đầu quan tâm đến việc sử dụng thuế bảo vệ môi trường như là một công cụ hữu hiệu để giảm tác hại đến môi trường thông qua thúc đẩy hành vi của các nhà sản xuất theo hướng tích cực. Wang và cộng sự (2018) đã đánh giá tác động của thuế năng lượng tới môi trường, sức khỏe cộng động và kinh tế TP. Thiên Tân. Sử dụng mô hình cân bằng chung, tích hợp với dữ liệu đầu ra – đầu vào (bảng I-O) và ma trận hạch toán xã hội, kết quả nghiên cứu cho thấy, thuế năng lượng có tác động tích cực đến GDP, tuy không cao nhưng lại có tác động lớn môi trường, quy mô sản xuất của những ngành phát thải cao giảm, vốn và lao động chuyển sang lĩnh vực phát thải và tiêu thụ năng lượng thấp.

Mặc dù vậy, việc nghiên cứu tác động của các sắc thuế này trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam còn nhiều hạn chế do Luật Thuế bảo vệ môi trường mới được ban hành lần đầu vào năm 2012, cho tới nay việc áp dụng sắc thuế này vẫn chưa bao phủ các đối tượng gây ô nhiễm chính, các chuẩn gây ô nhiễm còn thấp so với các quốc gia khác… Vì vậy, việc nghiên cứu tác động của các loại thuế môi trường đối với các vấn đề xã hội hiện chưa thể kiểm chứng.

Tác động của chính sách thuế tới tỷ lệ thất nghiệp

Thực tế, tác động của chính sách thuế tới tỷ lệ thất nghiệp ít khi được đo lường trực tiếp mà thường thông qua một kênh gián tiếp cụ thể. Zellner và Ngoie (2015) sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô Marshall để dự đoán rằng, việc cắt giảm thuế vĩnh viễn sẽ giúp tăng trưởng GDP. Theo các tác giả, việc giảm 5% thuế TNCN và TNDN dẫn đến tăng 3 điểm phần trăm GDP. Lora và Fajardo (2012) sử dụng cách tiếp cận phân tích hồi quy OLS với dữ liệu bảng để chứng minh tác động của các sắc thuế quỹ lương, thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế TNDN đối với các chỉ số đại diện cho tình trạng lao động tại 15 quốc gia khu vực châu Mỹ Latinh. Kết quả chỉ ra rằng, tác động của mỗi loại thuế là khác nhau, cụ thể: Thuế quỹ lương làm giảm việc làm và tăng chi phí sử dụng lao động; thuế GTGT làm giảm nhu cầu lao động có tay nghề cao; thuế TNDN lại làm giảm như cầu lao động có trình độ trung bình và lao động phổ thông.

Seward (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của thuế đối với việc làm và tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển trong giai đoạn 1965-1995, nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng. Kết quả cho thấy, thuế thu nhập tăng 10% sẽ làm tỷ lệ thất nghiệp tăng 5,3% và tăng trưởng giảm 2,1%.

Tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam đang được thống kê theo phạm vi toàn quốc, vì vậy, mô hình hồi quy tuyến tính thích hợp cho mục tiêu nghiên cứu nên là mô hình sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian.

Tác động của chính sách thuế tới tình trạng đói nghèo

Một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của xã hội là mức độ nghèo đói, thể hiện thông qua tỷ lệ hộ nghèo. Các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa chính sách thuế và vấn đề nghèo đói tương đối phổ biến và đa dạng về cách tiếp cận. Tại các quốc gia phát triển, Moisio và cộng sự (2016) đã sử dụng tỷ lệ hộ nghèo để đánh giá tác động của thay đổi chính sách thuế tại Phần Lan giai đoạn 1993-2010. Kết quả cho thấy, thay đổi về chính sách thuế có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ đói nghèo ở nước này.

Các mô hình được sử dụng phổ biến để đánh giá tác động của thuế đến phát triển kinh tế - xã hội hiện nay gồm:

- Mô hình đầu vào - đầu ra IO: Tuy ưu điểm của mô hình này rất thuận tiện để phân tích tác động, nhưng lại gặp bất lợi khi đòi hỏi thu thập một lượng dữ liệu lớn trong thời gian ngắn, kèm với đó là những giả định về các tác nhân trong nền kinh tế là hoàn hảo, nên khó áp dụng trong trường hợp thực tiễn tại Việt Nam.

- Mô hình cân bằng tổng thể CGE: Trái ngược với mô hình IO, mô hình CGE đòi hỏi công cụ thuật toán sử dụng phức tạp, áp dụng trong nền kinh tế cạnh tranh tự do và mở hoàn toàn, tuy nhiên lại thuận lợi khi sử dụng để đánh giá tác động của một biến cụ thể nào đó lên tất cả các biến còn lại của mô hình.

- Mô hình chuỗi thời gian: Với ưu điểm nhanh và đơn giản, mô hình này được sử dụng phổ biến để dự báo cho tương lai, tuy nhiên, đòi hỏi phải thu thập một số lượng dữ liệu lớn trong quá khứ với độ chính xác cao, do vậy, khi áp dụng mô hình này để phân tích thực tế tại Việt Nam cần sử dụng thêm biến giả để tránh trường hợp có những nhân tố tác động hoàn toàn mới với chính sách thuế đang được xem xét.

- Mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL: Mô hình này được chứng minh là phù hợp với cỡ mẫu nhỏ và chỉ ra được tác động ngắn hạn và dài hạn của biến độc lập lên biến phụ thuộc, điều này phù hợp khi áp dụng tại Việt Nam.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm các nước cho thấy, cùng với những thách thức nội tại, rõ ràng Việt Nam cần vận dụng chính sách thuế một cách phù hợp thì mới có thể tạo động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, vừa phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước. Theo đó, khi đánh giá tác động của chính sách thuế đến phát triển kinh tế - xã hội cần lưu ý những vấn đề cụ thể sau:

Một là, các tác động khác nhau của chính sách thuế trong ngắn hạn và dài hạn: Từ kết quả nghiên cứu của các nước trên thế giới, cho thấy, mức độ tác động của chính sách thuế có sự khác biệt rõ rệt trong ngắn hạn và dài hạn, đặc biệt đối với tăng trưởng kinh tế. Việc giảm thuế suất một số loại thuế cơ bản như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu dùng có thể khiến  tăng trưởng sản xuất, kích thích tiêu dùng trong giai đoạn đầu nhưng đến một lúc nào đó, khi số thu ngân sách từ thuế không được bù bởi nguồn khác, Chính phủ bắt buộc phải cắt giảm chi tiêu công. Điều này dẫn đến cơ sở hạ tầng sẽ không được chú trọng đầu tư, dự trữ quốc gia sụt giảm, tiếp đó, có thể gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, khi quyết định điều chỉnh chính sách thuế hay một sắc thuế nhất định, cần phải đánh giá một cách toàn diện để tìm ra những giải pháp tối ưu.

Hai là, lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp: Các mô hình hay phương pháp nghiên cứu được áp dụng rất đa dạng ở các quốc gia khác nhau. Mặc dù mô hình cân bằng tổng thể là mô hình tối ưu nhất được sử dụng để đánh giá tác động của chính sách thuế. Nhưng khi áp dụng tại Việt Nam thì cần phải tính toán đến yếu tố kỹ thuật và trình độ của đội ngũ nghiên cứu, cũng như có những điều chỉnh thích hợp hoặc bổ sung thêm mô hình khác để củng cố kết quả nghiên cứu.

Ba là, dữ liệu nghiên cứu đóng vai trò vô cùng quan trọng: Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng trên phạm vi quốc gia đưa ra quá ít thông tin đáng tin cậy phục vụ cho việc thực hiện chính sách ở từng quốc gia. Vì vậy, áp dụng mô hình sử dụng dữ liệu bảng kết hợp từ dữ liệu của các tỉnh, thành qua thời gian sẽ giúp đáp ứng mục tiêu nghiên cứu tác động của chính sách thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Thị Mỹ Linh và Thái Duy Tùng (2019), Lựa chọn mô hình đánh giá tác động của chính sách thuế đối với phát triển kinh tế tại Việt Nam, Tạp chí Phát triển & Hội nhập; ISSN 1859-428X, Số 47 tháng 07 & 08/2019;

2. Nguyễn Thị Mỹ Linh, Phan Thị Hằng Nga (2019), Điều chỉnh cấu trúc thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các địa phương của Việt Nam, Diễn đàn tài chính Việt Nam “Cải cách chính sách tài chính nhằm tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam”, Hà Nội 19/9/2019;

3. Nga Phan Thi Hang, My-Linh Thi Nguyen, Hoai Thu Ho and Toan Ngoc Bui (2020). The impact of tax policy on social development in Vietnam Management Science Letters, 10 (2020);

4. My-Linh Thi Nguyen, Nga Phan Thi Hang, Toan Ngoc Bui, Hang Xuan Tran (2020). Interrelation of tax structure and economic growth: A case study. Journal of Security and Sustainability Issues, Volume 9 Number 4, June, 2020.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM