VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Liên hệ quảng cáo, phát hành: 0912 170503 | Hotline: 0987 828585
Sẽ có quy định mới về chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp

Ảnh minh họa. Nguồn Internet

Sẽ có quy định mới về chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp

Thực hiện Chương trình công tác năm 2021 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính được giao chủ trì xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp cho giai đoạn sau năm 2021. Dự thảo Quyết định đang được lấy ý kiến của nhân dân.

Một số vấn đề trao đổi về chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp

Phát triển bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam

Nhà nước hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho hộ nghèo, cận nghèo đến 90%

Bộ Tài chính cho biết, việc ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp là nhằm triển khai chính sách bảo hiểm nông nghiệp theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Bên cạnh đó, Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg ngày 26/6/2019 và Quyết định số 03/2021/QĐ-TTg ngày 25/1/2021 về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp có thời gian thực hiện từ ngày 26/6/2019 đến ngày 31/12/2021. Do đó, cần thiết phải ban hành kịp thời Quyết định về thực hiện chính sách cho giai đoạn tiếp theo (kể từ ngày 1/1/2022) để đảm bảo việc thực hiện chính sách được liên tục, ổn định, không bị ngắt quãng và không có khoảng trống về pháp lý gây khó khăn cho việc tham gia bảo hiểm của người nông dân và các cấp chính quyền, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong tổ chức thực hiện. 

Đánh giá các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn vừa qua theo Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 03/2021/QĐ-TTg, Bộ Tài chính cho rằng, giai đoạn tiếp theo, trong triển khai cần đảm bảo nguyên tắc liên tục, ổn định và bền vững với trọng tâm là hỗ trợ hiệu quả cho người nông dân và bảo đảm hài hòa với lợi ích của nhà nước và lợi ích hợp pháp, hợp lý của DNBH.

Trên cơ sở cân đối ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính đề xuất đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ tại dự thảo Quyết định như sau: Cây trồng là cây lúa; vật nuôi gồm trâu, bò, lợn; nuôi trồng thủy sản gồm tôm sú, tôm thẻ chân trắng. 

Về địa bàn được hỗ trợ, trên cơ sở ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và cân đối ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ thực hiện hỗ trợ cho các địa bàn, cụ thể: Cây lúa, tại 7 tỉnh: Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp. Đối với vật nuôi: Đối với trâu, bò, tại 11 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Hà Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương; Đối với lợn, tại 9 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Bắc Giang, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đắk Lắk, Đồng Nai; Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tại 5 tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.

Việc lựa chọn đối tượng bảo hiểm trên căn cứ theo đề xuất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, là các đối tượng có quy mô, diện tích mang tính đại diện cho các vùng miền, tạo thuận lợi cho việc triển khai bảo hiểm theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít. Đây cũng là các sản phẩm chủ lực của ngành Nông nghiệp, phù hợp với mục tiêu, định hướng cơ cấu lại ngành Nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 25/2/2021 của Thủ tướng Chính phủ. 

Về mức hỗ trợ, để khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp, kế thừa quy định tại Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 03/2021/QĐ-TTg, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quy định tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ và mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp tối đa theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).

Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, mức hỗ trợ phí BHNN như sau: Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo: 90%; Cá nhân sản xuất nông nghiệp khác: 20% phí bảo hiểm nông nghiệp; Tổ chức sản xuất nông nghiệp đáp ứng các điều kiện cụ thể: 20%. 

Đề xuất trên cũng nhằm mục tiêu đảm bảo ổn định chính sách hỗ trợ cho người nông dân do đây cũng là mức hỗ trợ đang được thực hiện theo Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg và Quyết định số 03/2021/QĐ-TTg (đến hết ngày 31/12/2021).

Theo Bộ Tài chính, cơ sở đề xuất là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP quy định về địa bàn được hỗ trợ: “Địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp thuộc các vùng sản xuất chính theo định hướng tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, quy hoạch phát triển ngành Nông nghiệp”.

Về thời gian thực hiện, trên cơ sở cân đối ngân sách nhà nước hỗ trợ, đồng thời để ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc địa bàn được hỗ trợ có thời gian tổ chức lựa chọn, công bố địa bàn huyện, xã được hỗ trợ và thực hiện các thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều 21 và Điều 24 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP và đảm bảo phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ thời gian thực hiện hỗ trợ bắt đầu từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/12/2025.

Mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương để thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp áp dụng mức hỗ trợ theo quy định của cấp có thẩm quyền về nguyên tắc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương giai đoạn mới, bắt đầu từ năm ngân sách 2022.

Bộ Tài chính ước tính kinh phí hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp của ngân sách nhà nước trong tình hình hiện nay là khoảng 74,9 tỷ đồng/năm (trong đó kinh phí hỗ trợ bảo hiểm cây lúa khoảng 18,4 tỷ đồng/năm; kinh phí hỗ trợ bảo hiểm trâu, bò, lợn khoảng 47,5 tỷ đồng/năm; kinh phí hỗ trợ bảo hiểm tôm sú, tôm thẻ chân trắng khoảng 9 tỷ đồng/năm). Trường hợp các địa phương triển khai bảo hiểm nông nghiệp trên diện rộng, Bộ Tài chính sẽ căn cứ tình hình triển khai hàng năm để ước số phí bảo hiểm được ngân sách nhà nước hỗ trợ phù hợp với thực tiễn.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM